CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế / Nguyễn Thị Bích Hạnh // .- 2022 .- Số 788 .- Tr. 77-80 .- 337
Trong những năm gần đây dịch vụ thuế tại Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực nhằm đáp ứng các yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế, song còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Bài viết đánh giá lại thực trạng phát triển dịch vụ thuế tại Việt Nam trong bối cảnh hoi nhập kinh tế và đề xuất các giải pháp cho thời gian tới.
2 Nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với thương mại điện tử ở Việt Nam / Nguyễn Ngọc Hùng // .- 2022 .- Số 788 .- Tr. 81-83 .- 381.142
Thương mại điện tử đang ngày càng phát triển trên phạm vi toàn cầu. Việt Nam là một trong những quốc gia ứng dụng thương mại điện tử ngày càng rộng rãi. Số lượng cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử ngày càng tăng. Tuy nhiên phần đóng góp vào ngân sách nhà nước của đối tượng này chưa tăng tương ứng. Bài viết nghiên cứu thực trạng quản lý thuế đối với thương mại điện tử, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới.
3 Giải pháp hạn chế sai sót trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết / Võ Hồng Hạnh // .- 2022 .- Số 788 .- Tr. 84-86 .- 332
Báo cáo tài chính cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng để ra quyết định. Với khối lượng dữ liệu lớn và phức tạp, quá trình làm báo cáo tài chính khó tránh khỏi một số sai sót nhất định. Tuy nhiên chất lượng thông tin có thể làm tổn hại đến việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin trong báo cáo tài chính. Bởi vậy cần có những giải pháp phù hợp để hạn chế những sai
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp niêm yết ngành hàng tiêu dùng / Nguyễn Thị Vân Anh, Đào Thị Thanh Bình // .- 2022 .- Số 788 .- Tr. 87-90 .- 658.15
Nghiên cứu này xem xét nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn tối ưu của các doanh nghiệp niêm yết thuộc nhóm ngành hàng tiêu dùng thiết yếu ở Việt Nam bằng cách sử dụng dữ liệu bảng của 66 doanh nghiệp từ năm 2016 đến năm 2020. Kết quả từ 2 mô hình với 2 biến phụ thuộc khác nhau đưa ra những kết luận gồm những điểm chung và những điểm trai ngược. Trong số 7 biến độc lập được đưa vào mô hình 4 biến đọc lập đưa ra cùng nhận định về mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến giải thích là lá chắn thuế phi nợ vay,cơ cấu tài sản hữu hình, tỷ suất sinh lời, xác suất vỡ nợ.
5 Cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp trong chuyển đổi số / Lê Văn Sơn // .- 2022 .- Số 788 .- Tr. 92-94 .- 004
Chuyển đổi số hiện nay là xu hướng tất yếu, là vấn đề được quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Bài viết phân tích thực trạng chuyển đổi số ở Việt Nam, đưa ra cơ hội, thách thức từ đó đề xuất gợi ý một số giải pháp để Việt Nam chuyển đổi số thành công, khôi phục kinh tế, vượt qua đại dịch và phát triển vững mạnh trong thời đại công nghệ 4.0.
6 Giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã / Hoàng Thị Hoa // .- 2022 .- Số 788 .- Tr. 70-73 .- 004
Chuyển đổi số được coi là công cụ quan trọng để phát triển và chuyển đổi mô hình kinh tế hợp tác xã một cách linh hoạt, phù hợp, đạt hiệu quả cao, tiết giảm chi phí, tối ưu nguồn lực, góp phần thay đổi phương thức sản xuất, giải phóng tối đa sức lao động, gia tăng giá trị sản phẩm, giúp các hợp tác xã tiếp cận nhanh với thị trường và gắn với chuỗi giá trị. Bài viết trao đổi về thực trạng chuyển đổi số khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình này trong thời gian tới.
7 Thương mại bán lẻ trực tuyến của các doanh nghiệp Việt Nam trong Đại dịch Covid-19 / Vũ Tam Hòa // .- 2022 .- Số 788 .- Tr. 98-100 .- 658.81
Cách mạng công nghiệp 4.0 và Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống văn hóa – xã hội và kinh doanh, đặc biệt là thương mại điện tử. Trong bối cảnh dịch bệnh, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi kinh doanh trực tuyến trên góc độ, tiếp cận thị trường, tiếp cận khách hàng. Tuy nhiên đây cũng là cơ hội lớn để các doanh nghiệp chuyển đổi, đầu tư phát triển mô hình kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp đã chuyển đổi sang mô hình kinh doanh trực tuyến trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 có thể đứng vững trên thị trường.
8 Tác động của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng trong các doanh nghiệp khách sạn / Phạm Thị Kim Yến, Phan Thị Nhật Linh // .- 2022 .- Số 788 .- Tr. 101-103 .- 658
Thực tế cho thấy, khách hàng là một phần quan trọng của doanh nghiệp và thị trường, do vậy để tồn tại các doanh nghiệp cần cung cấp dịch vụ có chất lượng để mang lại sự hài lòng cho khách hàng. Cung cấp dịch vụ chất lượng cũng là một mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ khách sạn, nó ảnh hưởng đến việc duy trì khách hàng và mở rộng thị trường doanh nghiệp. Bài viết phân tích về tác động của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng trong các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn qua mô hình SERVQUAL và đề xuất một số giải pháp kiến nghị.
9 Kế toán đối với tổ chức, đơn vị có tổ chức kế toán riêng cho hoạt động xã hội, từ thiện / Trần Thị Anh Thêu // .- 2022 .- Số 788 .- Tr. 104-106 .- 657
Nhà nước khuyến khích tôn vinh và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp tự nguyện, hỗ trợ người dân chịu thiệt hại bởi thiên tai, dịch bệnh, sự cố hoặc người dân mắc bệnh hiểm nghèo nhằm ổn định cuộc sống, khôi phục phát triển kinh doanh. Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 41/2022/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toàn áp dụng cho các hoạt động xã hội, từ thiện, trong đó quy định rõ về công tác kế toán đối với tổ chức, cơ quan đơn vị có tổ chức kế toán riêng, cho hoạt động xã hội từ thiện.
10 Xây dựng hệ thống tự động kiểm định dòng máy đếm tần số CNT của hãng Pendulum, dải tần đến 27 GHz / Nguyễn Xuân Trường // Tự động hóa ngày nay .- 2022 .- Số 259+260 .- Tr. 28-33 .- 621
Trong bài báo, tác giả đề xuất xây dựng một hệ thống tự động kiểm định các máy đếm tần số kiểu CNT của hãng Pendulum, dải tần đến 27 GHz. Thông qua việc đánh giá các tham số theo quy trình kiểm định QTKD 1.013 : 2014 để đánh giá sự phù hợp của máy đếm tần số với các đặc tính kỹ thuật đo lường do nhà sản xuất công bố.