Bài viết phân tích, đánh giá một số quy định của luật tố tụng hình sự Liêng bang Nga về biện pháp tạm giữ nghi phạm, kết hợp đối chiếu với quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số nội dung nhằm góp phần hoàn thiện quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp tạm giữ nói riêng, chế định biện pháp ngăn chặn nói chung như: sửa tên Chương VII Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thành: “Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự”, bổ sung quy định về tính thời hạn tạm giữ từ thời điểm thực tế cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giữ, bắt người hoặc nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về đến trụ sở hoặc cơ sở giam giữ, quy định rõ trường hợp nào được coi là “cần thiết” hoặc “đặc biệt” trong gia hạn tạm giữ và rút bớt 01 lần gia hạn tạm giữ.
Trình bày thực trạng nền công vụ trong thời đại công nghệ 4.0 ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm xây dựng những giá trị cốt lõi của nền công vụ ở Việt Nam.
Bài viết phân tích quy định về tiếp nhận, điều tra và xử lí đối với hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2018, từ đó chỉ ra những bất cập, chưa hợp lí trong quá trình điều tra, xử lí và đề xuất hướng hoàn thiện đối với việc điều tra, xử lí đối với vụ việc vi phạm về tập trung kinh tế.
Bài viết chỉ ra những vướng mắc cơ bản khi thi hành pháp luật về đầu tư theo phương thức PPP, cũng như đưa ra một số giải pháp để tháo gỡ những vướng mắc và tồn tại của pháp luật về đầu tư theo phương thức này, nhằm không chỉ thay đổi pháp luật mà còn để hoàn thiện môi trường đầu tư theo phương thức PPP tại Việt Nam.
Bài báo phân tích cú sốc lớn gây ra bởi cuộc khủng hoảng Ukaine và các lệnh trừng phạt của Mỹ và Châu Âu đối với Nga, đưa ra những đánh giá ban đầu về ảnh hưởng đối với chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tại Liên minh châu Âu, các quốc gia thành viên đã thống nhất triển khai hệ thống xác nhận y tế chung với tên gọi là Chứng nhận Covid kĩ thuật số nhằm tạo điều kiện cho công dân Liên minh châu Âu và các thành viên gia đình của họ thực hiện quyền tự do đi lại khi có căn cứ chứng minh rằng họ đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe cộng đồng. Bài viết phân tích các vấn đề pháp lí về Chứng nhận Covid kĩ thuật số của Liên minh châu Âu, từ đó đưa ra những lưu ý đối với ASEAN nếu triển khai hệ thống chứng nhận y tế này.
Việt Nam đã từng bước mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước, tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các diễn đạn, tổ chức quốc tế. Đặc biệt, trong những năm gân đây, Việt Nam đã đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do với rất nhiều các đối tác quan trọng và tiềm năng. Trong đó, việc tăng cường tham gia các FTA đã giúp Việt Nam có nhiều điều kiện hơn trong việc thu hút FDI, nhất là trong bối cảnh chịu tác động rất lớn từ đại dịch Covid 19 như hiện nay.
Việt Nam hiện là thành viên của nhiều Hiệp định Thương mại tự do đa phương, trong đó phải kể đến Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU, Hiệp định đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Bên cạnh những cơ hội tiềm năng, Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện về quy tắc xuất xứ cũng như yêu cầu về trình tự, thủ tục chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Bài viết xem xét một số khía cạnh liên quan đó là chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong các FTAs nêu trên, những khó khăn mà Việt Nam gặp phải khi triển khai hình thức này và đề xuất một số khuyến nghị.