Bài viết sẽ phân tích các chính sách ưu đãi thuế đã được triển khai trong bối cảnh dịch Covid-19, trong đó tập trung cụ thể vào phân tích lợi ích chi phí của các chính sách, khả năng tiếp cận các gói hỗ trợ của doanh nghiệp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả của các chính sách ưu đãi thuế.
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên khảo sát 67 kế toán của 22 trường đại học công lập (ĐHCL) tự chủ Việt Nam nhằm đánh giá thực trạng kế toán quản trị chiến lược (KTQTCL) trong các trường theo các khía cạnh: (i) Áp dụng chiến lược; (ii) Lập kế hoạch chiến lược; (iii) Cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính; (iv) Áp dụng kỹ thuật KTQTCL; (v) Báo cáo quản trị chiến lược; (vi) Ra quyết định quản trị chiến lược. Kết quả cho thấy cho thấy các trường ĐHCL tự chủ đều đã quan tâm nhất định đến chiến lược, lập kế hoạch chiến lược, cung cấp thông tin KTQTCL phục vụ ra quyết định. Tuy nhiên, thông tin phi tài chính như chất lượng đào tạo, sự hài lòng của sinh viên…đang được quan tâm nhiều hơn so với thông tin tài chính.
Quản lý thuế trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay là một trong những nhiệm vụ được ngành Thuế đặc biệt quan tâm. Quản lý thuế trong bối cảnh chuyển đổi số được thực hiện theo phương thức điện tử sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn đối với người dân, xã hội và cơ quan thuế. Tuy nhiên, việc quản lý thuế trong bối cảnh chuyển đổi số tại các Chi cục Thuế còn chưa đạt hiệu quả cao. Bài viết tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế trong bối cảnh chuyển đổi số tại Chi cục Thuế khu vực Tiên Lữ - Phù Cừ tỉnh Hưng Yên. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế tại Chi cục Thuế khu vực Tiên Lữ - Phù Cừ tỉnh Hưng Yên trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Sự đồng vận động giữa sự phát triển của thị trường tài chính và các khoản đầu tư có tính đến các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) bằng cách nghiên cứu mối liên hệ giữa hai lợi nhuận theo thời gian và không gian tần số. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa thị trường tài chính nói chung và các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn ESG nói riêng bằng cách sử dụng dữ liệu hàng ngày từ năm 2007–2021 cho 19 quốc gia đang phát triển và 19 quốc gia đã phát triển. Kết quả của cho thấy các mô hình vận động đáng kể giữa ESG và sự phát triển của thị trường tài chính ở các tần suất, thang thời gian và giai đoạn mẫu khác nhau ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là trong thời kỳ hỗn loạn tài chính. Phần lớn, ghi nhận các biến động tích cực giữa lợi nhuận từ đầu tư vào thị trường tài chính và lợi nhuận ESG nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của thị trường tài chính.
Nghiên cứu này là đề xuất khung nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin công bố trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Tác giả đã dựa trên các lý thuyết nền tảng có liên quan như lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết thông tin hữu ích và lý thuyết tín hiệu để thực hiện mục tiêu nêu trên. Theo lý giải của các lý thuyết nền tảng này, tác giả đã đề xuất khung nghiên cứu trong đó có 6 nhân tố ảnh hưởng đến đến chất lượng thông tin công bố trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và kết quả nghiên cứu về khung nghiên cứu này sẽ hữu ích đối với các nhà nghiên cứu quan tâm đến các chủ đề có liên quan.
Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao kỹ năng mềm đối với nhân lực chất lượng cao ngành kế toán đáp ứng nhu cầu hội nhập kỷ nguyên công nghệ số.
Nghiên cứu dưới đây dựa trên lý thuyết về Kế toán môi trường (KTMT). Hiện nay, KTMT đang là mối quan tâm không chỉ dừng lại ở mức độ cấp quốc gia mà đã vươn tầm quốc tế. Nó có vai trò quan trọng trong trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp. KTMT cung cấp những thông tin về môi trường, từ đó tạo điều kiện cho sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
Việc lập dự toán là một trong những chiến lược trọng tâm trong công tác quản lý, giúp nhà quản trị ước tính được chi phí phát sinh, kiểm soát và tiết kiệm chi phí. Trên cơ sở đó, chủ động trong việc định hướng sử dụng, huy động và phát triển nguồn lực kinh doanh tối ưu.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ sẵn sàng áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại các DN trên địa bàn TP Đà Nẵng. Đối tượng điều tra là quản lý kế toán và kế toán viên tại các DN trên địa bàn TP Đà Nẵng. Phân tích dữ liệu cho thấy nhận thức của những người làm kế toán trên địa bàn TP Đà Nẵng về kế toán quốc tế chưa cao, cần phải được tập huấn và dịch các chuẩn mực này ra tiếng Việt để hiểu được lợi ích khi áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế. Nghiên cứu là cơ sở cho hàm ý chính sách để phát huy được những tín hiệu tích cực của giới hành nghề kế toán và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa quá trình hội tụ với các Chuẩn mực kế toán quốc tế của các kế toán trên địa bàn TP Đà Nẵng.
Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ internet banking của Vietcombank tại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được thực hiện khảo sát với 146 khách hàng. Thông qua kiểm định độ tin cậy của các thang đo, phân tích sự tương quan, phân tích hồi quy và kiểm định ANOVA, nghiên cứu đã cho thấy có 5 nhân tố tác động trực tiếp và cùng chiều đến chất lượng dịch vụ internet banking gồm: mức độ tin cậy, mức độ đồng cảm, năng lực phục vụ, mức độ đáp ứng và phương tiện hữu hình. Nghiên cứu cũng đã đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ internet banking của Vietcombank tại thành phố Hồ Chí Minh.