CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Kết quả phẫu thuật trồng lại ngón tay cái đứt rời tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 / Trần Thị Thanh Hoài, Nguyễn Việt Nam, Trần Chiến, Vũ Hồng Ái, Nguyễn Văn Trường, Ngô Thái Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 293 - 297 .- 610
Mô tả đặc điểm lâm sàng, Xquang tổn thương đứt rời ngón cái, đánh giá kết quả phẫu thuật trồng lại ngón cái đứt rời bằng kỹ thuật vi phẫu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu – tiến cứu trên 30 bệnh nhân bị đứt rời ngón cái được phẫu thuật trồng lại tại Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108 (từ tháng 06/2020 đến tháng 06/2025). Kết quả: Phẫu thuật trồng lại ngón cái sau đứt rời đạt tỷ lệ sống cao với 93,3% (28/30), Trong đó, nhóm đứt rời không hoàn toàn có kết quả tốt nhất với 100% sống (16/16), trong khi đứt rời hoàn toàn đạt 85,7% (12/14). Các tổn thương sắc gọn và vùng II–IV có tiên lượng tốt (91,7–100%), trong khi vùng III cho kết quả hạn chế hơn. Khám lại sau 3 tháng, 95% bệnh nhân có kết quả chức năng ở mức I, II, với cảm giác và vận động phục hồi đáng kể theo tiêu chuẩn Chung Wei Chen. Kết luận: Phẫu thuật trồng lại ngón cái sau đứt rời có tỷ lệ sống cao đạt 93,3% (28/30). Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sống bao gồm kiểu đứt gần hoàn toàn, tổn thương sắc gọn, thời gian thiếu máu dưới 6 giờ và bảo quản đúng cách. Đánh giá kết quả xa cho thấy 95% bệnh nhân đạt mức I, II, khẳng định hiệu quả và tính khả thi của vi phẫu trồng lại tái tạo ngón cái.
2 Kết quả điều trị xẹp đốt sống ngực thấp do loãng xương bằng phương pháp bơm xi măng sinh học có bóng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Nguyễn Duy Linh, Nguyễn Lê Bảo Tiến, Võ Văn Thanh, Ngô Thanh Tú, Phạm Hồng Phong, Nguyễn Vũ Công Bảo Long, Phạm Ngọc Sơn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 289 - 292 .- 610
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân xẹp đốt sống ngực thấp đơn tầng do loãng xương và đánh giá kết quả điều trị của phương pháp bơm xi măng sinh học có bóng (BXM) trên nhóm bệnh nhân này. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên hồ sơ bệnh án của 43 bệnh nhân được chẩn đoán xẹp đốt sống ngực thấp đơn tầng do loãng xương, điều trị bằng BXM có bóng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 01/2022 đến 01/2023. Các dữ liệu lâm sàng (thang điểm VAS, MacNab) và hình ảnh học (chiều cao thân đốt, các góc gù) được thu thập và phân tích tại các thời điểm trước và sau phẫu thuật. Kết quả: Tuổi trung bình là 73,7, nữ giới chiếm 86,0%. T-score trung bình là -3,4. Điểm đau VAS cải thiện đáng kể từ 7,3 trước mổ xuống còn 1,3 (ngay sau mổ) và 0,7 (sau 24 tháng) (p<0,001). Chiều cao thân đốt sống và các góc gù (góc xẹp thân đốt, góc Cobb) đều được phục hồi có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Tại thời điểm 24 tháng, 95,4% bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt theo thang điểm MacNab. Tỷ lệ biến chứng thấp, ghi nhận 4,6% xẹp đốt sống mới thứ phát và các trường hợp rò xi măng không triệu chứng. Kết luận: BXM có bóng là phương pháp an toàn, hiệu quả cao trong điều trị xẹp đốt sống ngực thấp do loãng xương, giúp giảm đau nhanh chóng, phục hồi hiệu quả hình thái cột sống và cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
3 Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản 1/3 trên bằng nội soi tán sỏi với năng lượng holmium laser tại Bệnh viện Ninh Thuận / Lê Thành Tài, Lê Huy Thạch, Đàng Quốc Phương, Nguyễn Nhật Huy, Lê Quốc Thắng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 280 - 284 .- 610
Nội soi tán sỏi ngược dòng với năng lượng Holmium laser hiện là phương pháp ít xâm lấn, hiệu quả cao, nhưng cần đánh giá thêm về kết quả và tính an toàn đối với sỏi niệu quản đoạn 1/3 trên. Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản 1/3 trên bằng nội soi tán sỏi ngược dòng với năng lượng Holmium laser tại Bệnh viện Ninh Thuận. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trên 40 bệnh nhân sỏi niệu quản đoạn 1/3 trên, kích thước 5–15 mm, thực hiện tán sỏi bằng nội soi ngược dòng với Holmium laser. Theo dõi khả năng tiếp cận sỏi, thời gian tán sỏi, biến chứng và hiệu quả điều trị. Kết quả: Tuổi trung bình 48,9 ± 13,3 tuổi, nam 60%, nữ 40%. Tất cả bệnh nhân (100%) được đưa máy soi vào niệu quản thành công. Thời gian tán sỏi trung bình 37,2 ± 12 phút. Tỷ lệ đặt sonde JJ niệu quản sau tán là 97,5%. Biến chứng nặng như thủng niệu quản không ghi nhận; chảy máu 7,5%, đái máu kéo dài 2,5%. Kết luận: Nội soi tán sỏi Holmium laser cho sỏi niệu quản 1/3 trên là phương pháp hiệu quả và an toàn, thời gian tán ngắn, biến chứng thấp, phù hợp để áp dụng rộng rãi. Việc đặt sonde JJ hỗ trợ đào thải sỏi và bảo vệ niệu quản.
4 Căn nguyên và tính kháng kháng sinh của vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ em tại Bệnh viện Bạch Mai / Trần Hữu Dũng, Nguyễn Thị Diệu Thúy, Nguyễn Thành Nam // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 264 - 267 .- 610
Viêm phổi cộng đồng (CAP) là bệnh phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Xác định tác nhân gây bệnh giúp thầy thuốc lâm sàng có lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 115 bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi cộng đồng tại Trung Tâm Nhi Bệnh Viện Bạch Mai. Kết quả: Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của trẻ CAP là ho, khò khè và sốt với tỷ lệ lần lượt là 98,3%; 84,3% và 80,9%. Ran ẩm nhỏ hạt nghe được ở 93% các trường hợp. Tổn thương trên phim X-quang chủ yếu là tổn thương nhu mô phổi. H. Influenzae là vi khuẩn được phân lập nhiều nhất với tỷ lệ là 41,5%; tiếp đến là S. Pneumoniae với tỷ lệ 33,1% và M. Catarrhalis là 24,6%. S. Pneumoniae có tỷ lệ đề kháng cao với Erythromycin (94,7%); Co-trimoxazol (82,1%); Ampicillin/ Sulbactam (88,7%); Amoxcillin/Acid Clavunanic (55,3%); nhậy cảm với Levofloxacin (97,4%); Ceftriaxone (100%) và Moxifloxacin (100%). H. Influenzae có tỷ lệ đề kháng cao với Ampicillin/ Sulbactam; Amoxcillin/ Acid clavunanic, Erythromycin và Co-trimoxazol với tỷ lệ lần lượt là 89,6%; 77,1%; 97,8%; 97,8% và 85,7%. Tỷ lệ nhạy với Ceftriaxone (95,8%); Moxifloxacin (100%); Levofloxacin (100%); Meronem (100%). Kết luận: Các tác nhân vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng có tỷ lệ đề kháng cao với các kháng sinh thồng thường.
5 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến điều trị điếc đột ngột / Lê Quang, Trần Lê Đình Phú, Nguyễn Thành Phương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 259 - 263 .- 610
Điếc đột ngột là một cấp cứu thường gặp trong chuyên ngành Tai Mũi Họng. Corticoid toàn thân là điều trị chính yếu và phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị nhưng chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Mục tiêu: Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị điếc đột ngột. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang tiến cứu trên 162 bệnh nhân điếc đột ngột tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh từ 02/2025 đến 09/2025. Dữ liệu lâm sàng, thính lực đồ và kết quả điều trị được phân tích. Hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Kết quả: Tuổi trung bình bệnh nhân là 45,0 ± 12,7 năm; thời gian trung bình từ khởi phát đến nhập viện là 8,5 ± 6,5 ngày. Sau điều trị, 16,0% bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, 27,8% hồi phục một phần và 56,2% không cải thiện. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy tuổi (OR = 0,96; KTC 95%: 0,96 – 0,99; p = 0,005), trì hoãn điều trị (OR = 0,88; KTC 95%: 0,82 – 0,94; p < 0,001) và ngưỡng nghe trước điều trị (OR = 0,97; KTC 95%: 0,97 – 0,99; p = 0,021) là các yếu tố ảnh hưởng làm giảm khả năng hồi phục thính lực. Các yếu tố khác như bệnh lý kèm theo, dạng thính lực đồ không ảnh hưởng kết quả điều trị. Kết luận: Tuổi, thời gian từ khi khởi phát đến điều trị, và ngưỡng nghe trước điều trị là các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị điếc đột ngột. Do đó, can thiệp sớm đóng vai trò then chốt trong việc tối ưu hóa kết quả điều trị.
6 Chỉ định và kết quả phẫu thuật thay khớp gối toàn phần dạng bản lề tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Nguyễn Mạnh Khánh, Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Thị Hương Liên // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 253 - 258 .- 610
Nhận xét chỉ định và đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp gối dạng bản lề tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bao gồm 05 bệnh nhân được thay khớp gối dạng bản lề tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2022-2025. Nghiên cứu mô tả. Kết quả: Cả 05 trường hợp thay khớp gối dạng bản lề bao gồm 2 trường hợp u tế bào khổng lồ đầu dưới xương đùi, 1 trường hợp lỏng khớp nhân tạo vô khuẩn, 2 trường hợp sau mổ đặt spacer kháng sinh do nhiễm trùng sâu quanh khớp nhân tạo. Cả 5 trường hợp đều đạt kết quả tốt và rất tốt sau mổ theo thang điểm KSS, KFS, bệnh nhân có thể trở về sinh hoạt hằng ngày và chưa ghi nhận biến chứng sau mổ. Kết luận: Thay khớp gối dạng bản lề chỉ định đúng mang lại hiệu quả giảm đau và phục hồi chức năng đi lại sớm và tốt cho bệnh nhân.
7 Khảo sát biểu hiện protein NUT trên carcinôm tế bào gai và carcinôm không biệt hóa ở vùng mũi xoang và vòm hầu / Phan Thế Anh, Dương Ngọc Thiên Hương, Lưu Thị Thu Thảo, Đặng Hoàng Minh, Lý Xuân Quang, Nguyễn Vũ Thiện, Võ Thị Ngọc Diễm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 114 - 124 .- 610
Khảo sát biểu hiện protein NUT trên carcinôm tế bào gai và carcinôm không biệt hóa ở vùng mũi xoang và vòm hầu. Đồng thời, đánh giá mối liên quan giữa biểu hiện protein NUT với các đặc điểm tuổi, giới tính, vị trí u nguyên phát và phân loại mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Khảo sát biểu hiện protein NUT trên bệnh nhân carcinôm tế bào gai và carcinôm không biệt hóa ở vùng mũi xoang và vòm hầu tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/01/2020 đến 31/08/2023 bằng phương pháp hóa mô miễn dịch với kháng thể đơn dòng có nguồn gốc từ thỏ NUT (C52B1). Kết quả: Tỉ lệ biểu hiện protein NUT trên carcinôm tế bào gai và carcinôm không biệt hóa ở vùng mũi xoang và vòm hầu là 2,2% (5/225 trường hợp). Có mối liên quan giữa biểu hiện protein NUT với vị trí u nguyên phát và hiện tượng sừng hóa đột ngột (p <0,05; Kiểm định Fisher). Không ghi nhận mối liên quan giữa biểu hiện protein NUT với nhóm tuổi, giới tính và phân loại mô bệnh học (p >0,05; Kiểm định Fisher). Kết luận: Đặc điểm tuổi, giới tính và phân loại mô bệnh học của những trường hợp carcinôm có biểu hiện protein NUT không đặc hiệu, có thể dẫn đến chẩn đoán nhầm với các trường hợp không có biểu hiện. Việc nhuộm hóa mô miễn dịch với NUT (C52B1) trên các trường hợp carcinôm vùng mũi xoang là cần thiết để định hướng chẩn đoán carcinôm NUT
8 Mô lách lạc chỗ trong phổi : báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn / Phạm Duy Quang, Nguyễn Thị Mỹ Xuân An, Phạm Quang Thông, Lê Ngọc Diệu Thảo, Hoàng Văn Thịnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 140 - 146 .- 610
Bệnh lý lách lạc chỗ là sự cấy ghép mô lách trưởng thành tự thân vào vị trí giải phẫu bất thường, xảy ra sau một chấn thương vỡ lách hoặc phẫu thuật cắt lách. Vị trí thường gặp là trong phúc mạc ổ bụng, quanh giường lách. Tuy nhiên vị trí ngoài phúc mạc ổ bụng cũng được ghi nhận, theo đó vị trí thường gặp nhất là trong lồng ngực, do có tiền sử chấn thương lách và cơ hoành cùng lúc. Vì tỷ lệ xuất hiện thấp, việc chẩn đoán lách lạc chỗ trong lồng ngực là một thách thức, đặc biệt khi tổn thương xuất hiện giống như một bệnh lý ác tính trên hình ảnh học. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam, 25 tuổi, nhập viện vì tổn thương ở phổi, theo dõi u phổi, với tiền sử bị tai nạn giao thông và phẫu thuật cắt lách. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy hình ảnh mô lách lành tính lạc chỗ ở vùng màng phổi-phổi.
9 Khảo sát tỷ lệ dấu ấn sinh học PD-L1 trên người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ và một số yếu tố liên quan / Hồ Hồng Hải, Hà Thị Anh, Ngô Thị Tuyết Hạnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 155 - 161 .- 610
Nghiên cứu nhằm khảo sát kết quả tỷ lệ dương tính PD-L1 bằng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch với dòng kháng thể SP263 Ventana và đánh giá một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 109 đối tượng mẫu bệnh phẩm được chẩn đoán xác định ung thư phổi nguyên phát không tế bào nhỏ từ tháng 11-2023 đến tháng 08- 2024. Kết quả: Tỷ lệ mẫu bệnh phẩm có kết quả biểu hiện chỉ số PD-L1 ở mức độ dương tính thấp đạt 40,4% (tương ứng 44 trường hợp ), nhóm âm tính chiếm 44,0% (tương ứng 48 trường hợp) và dương tính cao chiếm 15,6% (tương ứng 17 trường hợp). Có 56,9% xuất hiện đột biến gen EGFR. Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ dương tính PD-L1 gồm: Giai đoạn xấm lấn T4 (theo phân loại TNM) (chiếm 75,0% dương tính), giai đoạn di căn hạch N3 (chiếm 87,5% dương tính), giai đoạn di căn xa M1 (chiếm 70,4% dương tính), giai đoạn IV theo TNM (chiếm 78,6% dương tính), giới tính nam (OR 4,55 95%CI 1,19-8,41, p <0,05), yếu tố nguy cơ có hút thuốc lá (OR 1,96 95%CI 1,09-2,31, p <0,05), thể trạng thừa cân/béo phì (chiếm 88,9% dương tính), có đột biến EGFR (OR 1,85 95%CI 1,17-4,01, p <0,05). Kết luận: Trên 109 đối tượng ung thư phổi không tế bào nhỏ, biểu hiện của dấu ấn sinh học PD-L1 chiếm đa số với 56,0%, các yếu tố liên quan gồm giới tính, giai đoạn bệnh theo TNM, có hút thuốc lá và thể trạng thừa cân/béo phì.
10 Xác định trình trạng đột biến gen EGFR trên bệnh phẩm phẫu thuật bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ năm 2022 – 2023 tại Bệnh viện K / Lê Thị Thu Thủy, Trần Thị Tươi // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2026 .- Số CD2 .- Số CD2;Tr. 162 - .- 610
Xác định tình trạng đột biến gen EGFR trên bệnh phẩm phẫu thuật bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện K năm 2022 – 2023 và tìm mối liên quan của đột biến với tuổi, giới, giai đoạn bệnh và típ mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được thực hiện trên 238 bệnh nhân phẫu thuật và được chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện K. Kết quả: Tỷ lệ đột biến gen EGFR giai đoạn sớm chiếm 49,2% các trường hợp. Trong đó, phát hiện 1 đột biến (88,9%) hay gặp hơn 2 đột biến phối hợp. Đối với trường hợp đơn đột biến, vị trí Del exon 19 và đột biến L858R exon 21 chiếm phần lớn với tỷ lệ lần lượt 50,0% và 39,4%. Đột biến gen EGFR ở bệnh nhân nữ cao hơn nam. Các típ mô bệnh học như lót vách, nang, nhú, vi nhú cao hơn các típ đặc và típ biến thể. Tỷ lệ đột biến gen EGFR không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, giai đoạn, típ mô học của UTPKTBN . Kết luận: Đột biến gen EGFR trong UTPKTBN trên bệnh phẩm phẫu thuật chiếm tỷ lệ cao, trong đó hay gặp nhất là đột biến ở Del exon 19 và đột biến L858R exon 21. Tỷ lệ đột biến có liên quan đến giới.