Thuốc kháng kết tập tiểu cầu (APT) đóng vai trò then chốt trong điều trị và dự phòng biến cố tim mạch. Tuy nhiên, việc thực hiện nhổ răng ở bệnh nhân đang sử dụng APT đặt ra thách thức giữa nguy cơ chảy máu kéo dài nếu tiếp tục và nguy cơ biến cố tim mạch do huyết khối khi ngưng thuốc. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, tình trạng chảy máu sau nhổ răng ở bệnh nhân dùng APT so với nhóm đối chứng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu ứng dụng lâm sàng có đối chứng trên 210 bệnh nhân (105 nhóm APT, 105 nhóm đối chứng) từ 40 tuổi trở lên tại Phòng khám Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Bà Rịa từ tháng 9/2024 đến 8/2025. Kết quả: Hai nhóm bệnh nhân tương đồng về tuổi, giới, huyết áp và chỉ định nhổ răng, lượng thuốc tê, thời gian nhổ răng. Ở nhóm APT, đa số sử dụng clopidogrel (62,9%), chủ yếu mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn (67,6%), với viêm nha chu là nguyên nhân nhổ răng phổ biến nhất. Sau khi nhổ răng, thời gian cầm máu trung bình của nhóm APT dài hơn so với nhóm đối chứng (p < 0,001). Ngoài ra, tỷ lệ còn chảy máu tại các thời điểm đánh giá của bệnh nhân có dùng thuốc kháng tiểu cầu kép cao hơn dùng thuốc kháng tiểu cầu đơn. 100% bệnh nhân ở nhóm APT đều ngưng chảy máu tại thời điểm 60 phút sau nhổ răng. Kết luận: Duy trì APT khi nhổ răng làm tăng thời gian và tỷ lệ chảy máu, đặc biệt ở liệu pháp kép, nhưng hầu hết được kiểm soát bằng cầm máu tại chỗ. Nhổ răng vẫn an toàn nếu áp dụng kỹ thuật cầm máu phù hợp và theo dõi cẩn thận.
Khảo sát kích thước đường kính trước sau và đường kính bên diện bám mâm chày của dây chằng chéo trước trên MRI và qua nội soi khớp gối và so sánh tương quan với nhau. Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân có chỉ định nội soi tái tạo DCCT tại bệnh viện Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện Quân Y 7A. Phương pháp nghiên cứu: dùng phương pháp cắt ngang mô tả. Việc đo các kích thước trên MRI được khảo sát qua phần mềm tại khoa chẩn đoán hình ảnh của bệnh viện. Việc đo trong mổ nội soi khớp gối được thực hiện bằng thước chuyên dụng và xử lý hình ảnh với phần mềm Google Sketchup 2021. Kết quả: Trong 30 trường hợp khảo sát (24 nam, 6 nữ), tất cả đều được đo kích thước đường kính trước sau và đường kính bên diện bám mâm chày của dây chằng chéo trước trên MRI và qua nội soi khớp gối. Đường kính trước sau diện bám mâm chày trên MRI 15.3 ± 1.2 mm, trong đó ĐK trước sau ở nam là 15.53 ± 1.2 mm và ở nữ là 14.45 ± 0.6. Đường kính bên diện bám mâm chày trên MRI 10.1 ± 1.1 mm, đường kính bên diện bám mâm chày trên nội soi khớp gối ở nam là 10.2 ± 1.2 mm và nữ là 9.7 ± 0.9 mm. Đường kính trước sau diện bám mâm chày trên nội soi khớp gối 15.3 ± 1.2 mm, đường kính trước sau diện bám mâm chày trên nội soi khớp gối ở nam là 15.5 ± 1.2 mm và nữ là 14.4 ± 0.8 mm. Đường kính bên diện bám mâm chày trên nội soi khớp gối 10.6 ± 1.1 mm, trong đó đường kính bên diện bám mâm chày trên nội soi khớp gối ở nam là 10.7 ± 1.1 mm và nữ là nữ là 9.8 ± 0.9 mm. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự tương quan giữa kích thước đo trên MRI và qua nội soi khớp gối theo phường trình hồi quy tuyến tính: ĐK trước – sau thực tế (mm) = 2.018+ 0.863 x(ĐK trước – sau MRI[mm]), ĐK bên thực tế (mm) = 3.225 + 0.727 x (ĐK bên MRI[mm]). Kết luận: kết quả nghiên cứu phần nào giúp cho các phẫu thuật viên Chấn thương chỉnh hình có thể chủ động hơn trong việc lựa chọn mảnh ghép dựa trên kết quả MRI khớp gối trong phẫu thuật tái tạo DCCT gối
Mô tả đặc điểm bệnh lý phối hợp và nhận xét mối liên quan giữa chỉ số bệnh lý phối hợp C-harlson (CCI) trong tiên lượng tử vong ở bệnh nhân mắc hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu 50 bệnh nhân ARDS từ tháng 6/2023 đến tháng 5/2025. Tiêu chí lựa chọn gồm: thỏa mãn các tiêu chuẩn chẩn đoán ARDS, bệnh nhân ≥18 tuổi. Dữ liệu thu thập từ hồ sơ bệnh án. Kết quả được kết luận dựa trên phân tích về mối liên quan giữa điểm CCI và kết cục của bệnh nhân. Kết quả:.Tỷ lệ bệnh kết hợp chiếm 66%, trong đó hay gặp nhất là bệnh gan mạn tính mức độ nhẹ (27,3%), đái tháo đường không biến chứng (24,2%) và bệnh mô liên kết (21,2%) với điểm CCI trung bình 1,36 (0 - 5). Bệnh nhân có bệnh kết hợp tỷ lệ tử vong có xu hướng cao gấp 3 lần so với nhóm khỏe mạnh tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p= 1,03). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy mức độ tăng của điểm CCI là yếu tố ảnh hưởng tới tử vong ở bệnh nhân mắc hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển tuy nhiên chưa có ý nghĩa thống kê (OR: 2,20, p= 0,08). Ngược lại, mức độ tăng của điểm SOFA tại thời điểm nhập viện là yếu tố độc lập ảnh hưởng tới tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân mắc hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (OR: 1,29; 95% CI: 1,03- 1,61, p = 0,027). Nhóm bệnh nhân tử vong có tuổi trung bình (55,9 ± 16,5) cao hơn đáng kể so với nhóm sống sót (41,6 ± 14,6, p = 0,012). Trong khi đó, biến Số ngày sử dụng thuốc giãn cơ có xu hướng cao hơn ở nhóm tử vong nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,106). Các yếu tố khác như tỷ lệ sử dụng ECMO (46,2% vs 27,3%), giới nam (48,7% vs 72,7%), và thay thế thận (92,3% vs 72,7%) cũng không có sự khác biệt rõ rệt (p > 0,05). Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng có sự ảnh hưởng của bệnh lý phối hợp, mức độ suy tạng, tuổi đến lượng tử vong ở bệnh nhân ARDS. Trong khi CCI chưa chứng minh được vai trò trong tiên dự báo tử vong ở bệnh nhân ARDS thì SOFA có vẻ như là 1 công cụ tốt hơn trong tiên lượng ở bệnh nhân ARDS.
Phân tích một số đặc điểm lâm sàng răng vĩnh viễn nhiễm Fluor ở trẻ 7-10 tuổi tại Trường Tiểu học Liên Ninh, Thanh Trì, Hà Nội năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 818 trẻ từ 7-10 tuổi tại Trường Tiểu học Liên Ninh, Thanh Trì Hà Nội năm 2025 bao gồm 454 nam 364 nữ. Kết quả: Theo phân loại trên lâm sàng, loại 1: 94,85%; loại 2: 3,09% và loại 4 là 2,06%. Theo phân loại của Thylstrup Fejerskov, đường ngang hẹp màu trắng: 4,12%; đường mờ đục hẹp giữa vùng mờ đục nhỏ đường kính <2mm: 2,06%; vùng mờ đục rộng, không đều và hợp nhất: 93,83%. Theo phân loại TSIF, nhiễm Fluor phủ rìa cắn răng trước và đỉnh múi răng sau: 11,34%; nhiễm Fluor hơn 1/3 nhưng ít hơn 2/3 bề mặt thân răng: 85,57%; đã bị nhiễm màu khác như vàng hoặc nâu không tính đến tỉ lệ bao phủ nhưng không có lỗ rỗ nhỏ ở bề mặt: 3,09%. Phân loại theo FRI, 1/3 cổ răng: 5,15%; 1/3 giữa thân răng: 19,59%; 2/3 phía trên thân răng: 65,98%; rìa cắn răng trước hoặc đỉnh múi, mặt nhai răng hàm: 24,74%. Kết luận: Tổn thương mờ đục màu trắng hoặc kem chiếm tỉ lệ đa số; dạng tổn thương có vùng mờ đục rộng, không đều và hợp nhất thường gặp nhất; nhiễm Fluor ở vị trí hơn 1/3 nhưng ít hơn 2/3 bề mặt thân răng có tỉ lệ cao nhất; vị trí tổn thương thường gặp là 2/3 phía trên thân răng hoặc vị trí rìa cắn, đỉnh múi ở các răng vĩnh viễn.
Viêm não trong bệnh tay chân miệng là biến chứng nặng, diễn biến cấp tính với hội chứng não cấp, thường do Enterovirus 71 gây ra. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh tay chân miệng có biến chứng viêm não ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả trên 94 trẻ được chẩn đoán tay chân miệng có biến chứng viêm não tại Trung tâm Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Nhi Trung ương từ 01/2023 đến 07/2025. Kết quả: Tuổi trung vị của trẻ là 25,5 tháng, tỉ lệ nam/nữ 1,9/1. Trẻ nhập viện chủ yếu ở phân độ IIB1 và IIB2 (mỗi nhóm 37,2%). Hầu hết bệnh nhân có sốt (97,9%), trong đó 53,2% sốt ≥39°C. Triệu chứng da – niêm mạc gồm ban ở lòng bàn tay (92,6%), lòng bàn chân (88,3%) và loét miệng (51,1%). Triệu chứng thần kinh nổi bật là giật mình (94,7%) trong đó 81,9% giật mình ≥2 lần/30 phút; ngoài ra có run chi (57,4%), loạng choạng (41,5%) và kích thích (72,3%). Tỉ lệ trẻ có tăng bạch cầu ngoại vi và EV71 dương tính đều là 80,9%. Dịch não tủy đặc trưng bởi tăng bạch cầu đơn nhân, protein và glucose trong giới hạn bình thường. Kết luận: Viêm não do tay chân miệng thường gặp ở trẻ trai dưới 3 tuổi, biểu hiện bằng sốt, rối loạn tri giác và phát ban phỏng nước. Các xét nghiệm ghi nhận tăng bạch cầu, EV71 dương tính và dịch não tủy gợi ý viêm não do virus.
Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm vi sinh, đề kháng kháng sinh và kết quả điều trị của bệnh nhân viêm phúc mạc thứ phát tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu, trên 100 bệnh nhân viêm phúc mạc thứ phát (75 ca nhiễm cộng đồng – CAI, 25 ca nhiễm bệnh viện – HAI) từ tháng 1/2022 đến 4/2025. Kết quả: Ở nhóm CAI, E. coli (66%) và K. pneumoniae (42%) là các chủng chủ yếu, còn nhạy cao với nhóm carbapenem và cephalosporin thế hệ 3– 4 (88–100%). Nhóm HAI có tỷ lệ cao các chủng đa kháng như P. aeruginosa (20%), A. baumannii (24%) với tỷ lệ kháng carbapenem lên tới 82–87%, còn nhạy với colistin (67–90%) và ceftazidime/avibactam (87– 91%). Tỷ lệ tử vong ở nhóm HAI cao hơn rõ rệt (60% so với 9,3%, p < 0,01), thời gian nằm viện, hồi sức và thở máy cũng kéo dài hơn có ý nghĩa. Kết luận: Sự khác biệt rõ rệt về phổ vi sinh và mô hình kháng thuốc giữa viêm phúc mạc CAI và HAI ảnh hưởng đến tiên lượng điều trị.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân nhồi máu não cấp có đái tháo đường týp 2. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu 100 bệnh nhân nhồi máu não cấp trong đó có 50 bệnh nhân nhồi máu não có đái tháo đường týp 2 được điều trị tại Trung tâm Thần kinh bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2023 đến tháng 05/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 64.9 9.1, điểm NIHSS từ 5-15 điểm chiếm 72%, từ 0-4 điểm chiếm 18%, >16 điểm là 10%. Triệu chứng lâm sàng của nhồi máu ổ khuyết: liệt vận động đơn thuần nửa người là 38,5%, rối loạn cảm giác vận động nửa người 26,9%, mất điều phối nửa người 3,8%, nói khó bàn tay vụng về 11,6%. Glucose máu trung bình khi nhập viện là 12,25 5,83 mmol/l. Tỷ lệ bệnh nhân có HbA1C 7 là 72 %, giá trị trung bình của HbA1C là 8.56 2.89, tăng cholesterol máu 60%. Tỷ lệ vữa xơ, gây hẹp động mạch cảnh <70% (chiếm 60%) cao hơn nhóm không có đái đường (36%) (p<0,05). Trên CHT nhồi máu ổ khuyết nhiều ổ chiếm 71,4%; khu vực hạch nền và bao trong 42,9%, thân não, tiểu não là 25,7%, khu vực vành tia và trung tâm bầu dục 17,1%, đồi thị 14,3%. Kết luận: Người bệnh đái tháo đường týp 2 bị nhồi máu não cấp có điểm NIHSS ở mức độ trung bình, thường kèm rối loạn chuyển hoá với nhồi máu ổ khuyết nhiều ổ.
Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính bệnh nhân chấn thương sọ não nặng có chỉ định phẫu thuật mở nắp sọ giảm áp tại thời điểm nhập viện. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang tất cả các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng có chỉ định phẫu thuật mở nắp sọ giảm áp tại thời điểm nhập viện từ 03/2024 đến 12/2024. Kết quả: Trong số 160 bệnh nhân thu thập, về yếu tố dịch tễ: chủ yếu là nam giới, trong độ tuổi lao động, nguyên nhân chính là do tai nạn giao thông. Các đặc điểm lâm sàng bao gồm: phần lớn là chấn thương ở mức nặng (GCS 6-8), các bệnh nhân có chênh lệch đồng tử ở ¼ số ca, yếu liệt ½ người dưới 20%. Về đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính sọ não: chủ yếu xuất hiện với 01 tổn thương với dập não chiếm đa số; hầu hết các ca có xuất huyết dưới nhện, hơn ¾ số ca có đẩy lệch đường giữa >5mm, 80% các ca có chèn ép bể đáy, 60% số ca có máu tụ hình thành mới sau mổ. Các đặc điểm có liên quan đến độ nặng chấn thương bao gồm: tuổi, dấu hiệu chênh lệch đồng tử, mức độ đẩy lệch đường giữa và mức độ chèn ép bể đáy. Kết luận: Chấn thương sọ não nặng là một trong số các bệnh lý gây khó khăn trong việc chọn lựa điều trị. Vì vậy, các phẫu thuật viên cần cân nhắc các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh học có liên quan với nhau để quyết định điều trị khi sự biểu hiện các đặc điểm này thực sự đa dạng và gây nhiễu trên lâm sàng.
Giác mạc dải băng là tình trạng lắng đọng bệnh lí gây giảm thị lực và cảm giác khó chịu, giảm chất lượng cuộc sống người bệnh. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phương pháp gọt bề mặt giác mạc bằng laser excimer trong điều trị bệnh lý giác mạc dải băng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca tiến cứu, can thiệp lâm sàng trên 24 mắt của 18 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh lý giác mạc dải băng. Các bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp gọt bề mặt giác mạc bằng laser excimer (Phototherapeutic Keratectomy - PTK) tại Bệnh viện Mắt TP. Hồ Chí Minh từ tháng 09/2023 đến tháng 06/2024. Các chỉ số về thị lực, khúc xạ, triệu chứng cơ năng, độ trong giác mạc và các thông số giác mạc trên máy AS-OCT, Pentacam được so sánh theo dõi trong 6 tháng. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 20,96 ± 14,9, trong đó nhóm tuổi 10-20 chiếm tỷ lệ cao nhất (44,44%). Nguyên nhân chủ yếu là do các bệnh lý tại mắt, với viêm màng bồ đào chiếm 72,22%, xếp thứ hai là bệnh lý võng mạc 22,22%. Sau phẫu thuật, các triệu chứng cơ năng như cộm xốn, chói lóa được cải thiện hoàn toàn ở tất cả bệnh nhân. Thị lực chỉnh kính tối đa (BCVA) trung bình cải thiện từ 0,09 ± 0,08 trước mổ lên 0,33 tại thời điểm 6 tháng (p < 0,001). Tỷ lệ mắt có BCVA ≥ 0,5 tăng từ 0% lên 41,66%. Độ trong giác mạc cải thiện đáng kể, với 66,67% số mắt đạt độ trong hoàn toàn sau 6 tháng. Tình trạng khúc xạ cũng thay đổi trên những mắt đo được khúc xạ khách quan, sau phẫu thuật cho độ viễn hơn 0,2D và độ loạn giảm đi. Bề dày giác mạc trung tâm, công suất giác mạc và độ loạn thị giác mạc đều giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Biến chứng thường gặp nhất là sẹo mờ giác mạc (haze) với 66,67% số mắt, hầu hết đáp ứng với điều trị nội khoa. Chưa ghi nhận trường hợp tái phát, nhiễm trùng hay dãn phình giác mạc trong quá trình theo dõi. Kết luận: Gọt giác mạc bằng laser excimer là một phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn cho bệnh lý giác mạc dải băng, giúp cải thiện đáng kể độ trong giác mạc, thị lực và các triệu chứng cơ năng cho người bệnh.
Khảo sát khả năng tuân thủ điều trị của người bệnh gút bằng bộ câu hỏi CQR5 và nhận xét một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 bệnh nhân gút được chẩn đoán theo tiêu chuẩn EULAR/ACR 2015 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ tháng 9/2024 đến tháng 6/2025 và được khảo sát khả năng tuân thủ điều trị bằng bộ câu hỏi CQR5. Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ điều trị của người bệnh gút đánh giá theo CQR5 là 52,7%. Các yếu tố như tuổi từ 60 trở lên (OR=2,3; p=0,042), lao động chân tay (OR=4,8; p<0,001), trình độ học vấn thấp (OR=3,0; p=0,003), có nhiều bệnh đồng mắc (OR=2,0; p=0,042), thời gian mắc bệnh từ 5 năm trở lên (OR=2,16; p=0,028), gút mạn (OR=2,90; p=0,010), dùng từ 3 thuốc/ngày trở lên (OR=4,4; p=0,001) và số lần dùng thuốc từ 3 lần/ngày trở lên (OR=3,4; p<0,001) có liên quan đến giảm khả năng tuân thủ điều trị. Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ điều trị của người bệnh gút còn tương đối thấp. Việc xây dựng các chiến lược quản lý người bệnh gút toàn diện là cần thiết, trong đó chú trọng nâng cao nhận thức về bệnh, xây dựng các phương án hỗ trợ nhóm người bệnh cao tuổi, có nhiều bệnh đồng mắc, tối ưu hóa phác đồ điều trị để giảm việc phải sử dụng nhiều thuốc là những biện pháp giúp nâng cao khả năng tuân thủ điều trị của người bệnh.