Nghiên cứu hướng tới xây dựng mô hình cấu trúc bài phê bình sách Ngôn ngữ học để làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà Ngôn ngữ học ở Việt Nam và đóng góp vào kho tàng lí luận về phân tích thể loại trong và ngoài nước.
Khẩu hiệu tuyên truyền cũng là một sản phẩm ngôn từ nên quá trình giao tiếp qua khẩu hiệu tuyên truyền cũng không nằm ngoài quy luật trên. Đó là quá trình truyền gửi thông điệp từ một nhóm đối tượng này (nhà tuyên truyền, nhà quản lí xã hội) sang một nhóm đối tượng khác (đối tượng được tuyên truyền).
Nghiên cứu và đưa ra một số nhận định mang tính khảo tả, phân tích nhằm góp phần minh định đối tượng và bản chất của các đường hướng tiếp cận nghiên cứu ngôn ngữ.
Bài viết này được viết với mục đích so sánh hệ thống âm chính tiếng Nùng Xuồng với một số phương ngữ Nùng ở Việt Nam trên bình diện đồng đại để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt. Kết quả khảo sát về tương ứng đồng nhất và đối ứng giữa hệ thống âm chính tiếng Nùng Xuồng với 2 phương ngữ Nùng An và Nùng Giang cho thấy sự tương ứng giữa chúng là không cao và không logic trong mối quan hệ giữa các phương ngữ cùng một ngôn ngữ. Điều này một lần nữa đặt ra câu hỏi đã được chúng tôi nêu ra khi so sánh hệ thống âm đầu cũng giữa Nùng Xuồng và Nùng An, Nùng Giang: Liệu các phương ngữ này có thực sự cùng thuộc một tiểu nhóm ngôn ngữ, có quan hệ họ hàng gần gũi hay không?!.
Bài viết này được thực hiện nhằm trình bày một số lí luận về mơ hồ, làm rõ tác dụng của mơ hồ trong việc thu hút sự chú ý, tạo ấn tượng mạnh mẽ và tăng cường hiệu quả truyền thông cho thương hiệu thông qua phân tích một số ví dụ cụ thể trong khẩu hiệu quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh. Những phát hiện này không chỉ đóng góp vào việc nghiên cứu sâu hơn về chiến lược ngôn ngữ trong quảng cáo mà còn cung cấp gợi ý thiết thực cho các nhà quảng cáo nhằm thiết kế thông điệp hiệu quả hơn.
Bài viết vận dụng lí thuyết ẩn dụ ý niệm của Ngôn ngữ học tri nhận để tìm hiểu thành ngữ về mèo trong tiếng Việt. Từ 61 thành ngữ về mèo, bài viết đã miêu tả và phân tích những thuộc tính của mèo gồm: hành vi, hoàn cảnh/ tình trạng, dáng vẻ, quan hệ được sử dụng để ánh xạ đến một số ý niệm của con người như hành vi, tâm trạng, quan hệ và hình thành nên những ẩn dụ như hành vi của con người là hành vi của mèo, tâm trạng của con người là dáng vẻ của mèo, mối quan hệ của con người là mối quan hệ giữa chó với mèo. Trong đó, hành vi là thuộc tính nổi trội nhất của mèo và hầu hết sự liên tưởng về mèo trong thành ngữ Việt đều mang ý nghĩa tiêu cực.
Nêu những đặc trưng trong tư duy của người Việt về cuộc đời hữu hạn của con người, đồng thời khảo sát tư liệu để khái quát nên lược đồ chiếu xạ và sự phân tích những dụ dẫn ẩn dụ trong các biểu thức ngôn từ là các thành ngữ, tục ngữ. Phạm vi tư liệu được sử dụng để khảo sát là các câu thành ngữ, tục ngữ trong hai công trình Hoàng Văn Hành (2015), Thành ngữ học tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội; Nguyễn Đức Dương (2010), Từ điển Tục ngữ Việt, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu này sẽ không chỉ góp phần giải quyết các vấn đề hiện tại trong giảng dạy tiếng Hán thương mại mà còn mở ra hướng tiếp cận mới trong giáo dục ngôn ngữ chuyên ngành tại Việt Nam. Đồng thời, kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ nâng cao năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của người học Việt Nam trong môi trường kinh doanh quốc tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực chất lượng trong kỉ nguyên toàn cầu hoá.
Dựa trên khung lý thuyết ngữ pháp hình ảnh của Kress và Van Leeuwen cùng khung lí thuyết ngôn ngữ đánh giá của Martin & White, bài viết tập trung miêu tả, bàn luận đặc điểm kênh hình, kênh chữ trong vai trò biểu đạt chủ đề đoạn trích Chiếc lược ngà (Sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập 1, bộ Cánh diều). Từ đó, gợi mở hướng ứng dụng văn bản đa phương thức vào dạy học Ngữ văn theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, giúp giáo viên nâng cao hiệu quả dạy học, kích thích hứng thú và khả năng sáng tạo của người học.
Khám phá đặc điểm của các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp số, tập trung vào các nhân tố đặc biệt như: không gian ảo, danh tính số, bối cảnh ngôn ngữ ảo, ngôn ngữ số. Hơn nữa, bài viết phân tích các đặc điểm đặc thù của hoạt động giao tiếp trên không gian mạng, bao gồm: tính tức thời, tính đồng thời, tính đa thức, tính tự phát, tính gián cách và tính công khai. Dựa trên lí thuyết về hoạt động giao tiếp, nghiên cứu muốn làm nổi bật cách mà giao tiếp số và không gian mạng đang định hình lại tương tác xã hội cũng như cách con người sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, từ đó mà tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội.