Chẩn đoán phân biệt giữa tổn thương di căn não đơn độc và viêm não đôi khi gặp nhiều khó khăn do biểu hiện hình ảnh không điển hình và triệu chứng lâm sàng mơ hồ. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam 42 tuổi, vào viện với triệu chứng đau đầu, chóng mặt, tổn thương não đơn ổ vùng trán trái, không phù não, không ngấm thuốc viền rõ, không tăng sinh mạch hay bất thường trên phổ MRI. Bệnh nhân được điều trị triệu chứng và theo dõi. Sau 3 tháng, tổn thương tiến triển, sinh thiết cho kết quả ung thư biểu mô tuyến di căn từ phổi. Trường hợp này cho thấy cần thận trọng khi đánh giá tổn thương não đơn độc không điển hình, và nhấn mạnh vai trò của tầm soát toàn thân trong các trường hợp nghi ngờ di căn.
Tồn tại ống động mạch (PDA) là một trong những dị tật tim bẩm sinh phổ biến nhất, chiếm 5–10% tổng số bệnh tim bẩm sinh ở trẻ đủ tháng. Tỷ lệ mắc PDA tỷ lệ nghịch với tuổi thai và cân nặng, với tỷ lệ mắc bệnh cao hơn rõ rệt ở trẻ sinh non. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ đóng ống động mạch sau điều trị paracetamol tĩnh mạch ở trẻ sơ sinh non tháng và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kết quả đóng ống động mạch. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trên trẻ sơ sinh non tháng nhập khoa Hồi sức Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận từ 12/2023 - 9/2024, có chẩn đoán PDA và chỉ định điều trị đóng ống động mạch. Tất cả được điều trị bằng paracetamol truyền tĩnh mạch, siêu âm tim kiểm tra sau 3 ngày kể từ khi bắt đầu điều trị. Kết quả: 25 trẻ sơ sinh non tháng được đưa vào nghiên cứu, bé trai chiếm 64%, tỷ lệ trẻ sinh rất non (<32 tuần) và cực non (<28 tuần) lần lượt là 48% và 12%. Tỷ lệ đóng ống động mạch thành công sau điều trị paracetamol tĩnh mạch đạt 84%. Trong 11 trẻ thở máy trước điều trị, 9 trẻ (81,8%) cai được máy sau điều trị. Phân tích thống kê cho thấy đường kính ống động mạch liên quan có ý nghĩa với kết quả đóng ống động mạch (p < 0,05). Kết luận: Paracetamol tĩnh mạch cho thấy hiệu quả và an toàn trong điều trị đóng ống động mạch ở trẻ sơ sinh non tháng.
Mô tả đặc điểm căn nguyên vi khuẩn gây bệnh viêm phổi liên quan thở máy tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Lão khoa Trung Ương. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, theo dõi dọc thực hiện trên 258 bệnh nhân tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Lão Khoa Trung ương từ tháng 05/2023 đến tháng 12/2023. Kết quả: Trong 258 bệnh nhân được lấy vào nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân nam/nữ: 2/1, tuổi trung bình: 79,2 ± 9,1 tuổi, cao nhất là 101 tuổi và thấp nhất là 70 tuổi. Phần lớn các bệnh phẩm nuôi cấy cho kết quả dương tính chiếm 48,2%. Đa số kết quả nhuộm soi ra vi khuẩn Gram âm sẽ cho kết quả nuôi cấy ra vi khuẩn Gram âm. Căn nguyên gây VPLQTM hay gặp nhất là vi khuẩn Gram (-), đứng hàng đầu là A.baumannii, sau đó là K.peumoniae và P.aeruginosa. Căn nguyên gây VPLQTM muộn thường gặp là A.baumannii đơn độc hoặc hai tác nhân Gram âm kết hợp. A.baumannii chỉ còn nhạy < 10% với hầu hết các kháng sinh carbapenem, cephalosporin thế hệ 3, quinolon, 88,2% trung gian với colistin. K.pneumoniae còn nhạy 20 – 30% với các kháng sinh carbapenem, cephalosporin thế hệ 3, 40% với amikacin và 70% với fosfomycin và 60% trung gian với colistin. P.aeruginosa còn nhạy tương đối với nhiều loại kháng sinh thuộc các nhóm cephalosporin thế hệ 3, quinolon, carbapenem và 88.9% trung gian với colistin. Kết luận: Căn nguyên gây viêm phổi nặng trên bệnh nhân cao tuổi thường gặp là vi khuẩn Gram âm, đứng đầu là A.baumannii, theo sau là K.pneumoniae và P.aeruginosa.
Sinh non là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sơ sinh và di chứng phát triển lâu dài. Việc xác định các yếu tố nguy cơ có thể can thiệp giúp giảm tỷ lệ sinh non, cải thiện kết cục thai kỳ. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ trẻ sinh non và mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ, lâm sàng của mẹ tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Cà Mau năm 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 2.378 sản phụ sinh tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2024. Phân tích hồi quy logistic, tính OR thô và OR hiệu chỉnh (ORHC) với khoảng tin cậy 95%. Kết quả: Tỷ lệ sinh non là 9,59% (228/2.378). Sau phân tích hồi quy đa biến, các yếu tố liên quan độc lập với sinh non: BMI tiền thai <18,5 (ORHC = 1,91; KTC95%: 1,12–2,93; p=0,01), tăng cân thai kỳ <9 kg (ORHC = 1,35; 1,12–2,48; p=0,01), khoảng cách sinh <24 tháng (ORHC = 1,84; 1,31–3,14; p=0,01), có bệnh lý trong thai kỳ (ORHC = 4,63; 2,35–7,93; p<0,0001), tiền sử sinh non (ORHC = 3,49; 2,24–5,28; p=0,001) và tiền sử sinh mổ (ORHC = 1,76; 1,09–3,41; p=0,003). Các yếu tố như địa chỉ cư trú, tuổi mẹ và số con không có ý nghĩa sau hiệu chỉnh. Kết luận: Tỷ lệ sinh non tại Cà Mau năm 2024 là 9,59%. Các yếu tố liên quan bao gồm: dinh dưỡng mẹ (BMI thấp, tăng cân không đạt), khoảng cách sinh ngắn, tiền sử sản khoa bất lợi và bệnh lý thai kỳ.
Đánh giá kết quả điều trị nội nha nhóm răng sau hàm trên có sử dụng hệ thống trâm xoay jizai tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 41 răng hàm viêm tủy không hồi phục có chỉ định điều trị nội nha được đưa vào nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trong thời gian từ tháng 1/2025 - tháng 10/2025. Kết quả: Thời gian sửa soạn ống tủy trung bình bằng hệ thống trâm jazai là 45,61±11,19 phút, thời gian sửa soạn ngắn nhất là 25 phút, dài nhất là 65 phút. Thời gian tạo hình ống tủy trung bình đối với nhóm răng hàm lớn là 51,00 ±7,58 phút. Không có tai biến xảy ra trong quá trình sửa soạn ống tủy. Kết quả điều trị thành công có xu hướng dần theo thời gian theo dõi: Kết quả ngay sau hàn là 92,7%, sau 1 tháng là 92,7%, sau 3 tháng là 97,5% và sau 6 tháng là 100%. Kết luận: Tạo hình bằng trâm xoay Jizai an toàn, không xảy ra tai biến và cho kết quả bước đầu thành công với tỷ lệ cao.
Cắt bao quy đầu là một trong những thủ thuật phẫu thuật phổ biến nhất trên thế giới, nhiều nghiên cứu đưa ra 47 biến chứng phổ biến sau phẫu thuật cắt bao quy đầu trong đó chủ yếu liên quan đến công tác chăm sóc sau phẫu thuật đặc biệt là chăm sóc vết thương (1). Công tác chăm sóc vết thương sau phẫu thuật có vai trò rất quan trọng đến việc hồi phục sau phẫu thuật. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 208 người bệnh sau phẫu thuật cắt bao quy đầu bằng phương pháp truyền thống tại Khoa Nam học và Y học giới tính- Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đồng ý tham gia nghiên cứu để đánh giá tình trạng liền vết thương nhằm đánh giá hiệu quả và nâng cao chất lượng chăm sóc vết thương sau phẫu thuật. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy độ tuổi trung bình của người bệnh có phẫu thuật cắt bao quy đầu là 27, có trình độ học vấn từ đại học trở lên chiếm 73.1%, chủ yếu chưa kết hôn chiếm 74.5%, số ngày cắt chỉ trung bình của người bệnh là 11.6 ngày, tại thời điểm sau 3 ngày phẫu thuật vết thương được đánh giá là liền thương tốt đạt 43.2% còn tại thời điểm cắt chỉ đạt 94.2%, tại thời điểm sau 3 ngày phẫu thuật có 2.4% người bệnh có tình trạng hở hoàn toàn vết mổ và tại thời điểm trước cắt chỉ có 0.5% người bệnh có dấu hiệu nhiễm trùng trung bình cần can thiệp y tế thêm.
Parkinson là một bệnh tiến triển mạn tính của hệ thần kinh trung ương. Người mắc bệnh Parkinson thường mắc nhiều bệnh kết hợp khác nhau nên phải uống nhiều loại thuốc và nhiều lần trong ngày do đó họ rất dễ bị quên dùng thuốc. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu áp dụng thang điểm morisky 8 đánh giá sự tuân thủ điều trị thuốc ở bệnh nhân parkinson tại phòng khám khoa thần kinh bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh parkinson. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang 51 bệnh nhân parkinson, thời gian nghiên cứu từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 09 năm 2024. Kết quả nghiên cứu: Trong số 51 bệnh nhân động kinh được chọn vào mẫu nghiên cứu, tuổi trung bình các bệnh nhân nhập viện 64,8±12 tuổi, Giới nam chiếm 56,8% nhiều hơn nữ. Tuân thủ điều trị chiếm 74,5%, tỷ lệ không tuân thủ điều trị chiếm 25,5%. Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ điều trị chiếm 74,5%, tỷ lệ không tuân thủ điều trị chiếm 25,5%.0
So sánh độ chính xác giữa phương pháp lập kế hoạch phẫu thuật ảo (VSP) và lập kế hoạch truyền thống (CSP) trong phẫu thuật chỉnh hình hai hàm. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 20 bệnh nhân sai hình xương được chỉ định phẫu thuật chỉnh hình hai hàm tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương TP. Hồ Chí Minh (08/2023–02/2025). Mỗi bệnh nhân được lập kế hoạch bằng cả hai phương pháp, với máng phẫu thuật được chọn ngẫu nhiên trong phòng mổ. Hình ảnh cắt lớp điện toán (CT) sau phẫu thuật được chồng khớp với trước phẫu thuật để đo sai lệch tịnh tiến (X, Y, Z) và xoay (roll, pitch, yaw) của xương hàm trên (XHT), mảnh xa và hai mảnh gần xương hàm dưới (XHD). Kết quả và bàn luận: Cả hai phương pháp đều đạt độ chính xác cao, với sai số trung bình dưới 2 mm và 2°, trong giới hạn lâm sàng chấp nhận được. Tuy nhiên, nhóm VSP có sai số theo chiều trước–sau lớn hơn so với CSP ở cả xương hàm trên và dưới (p < 0,05), chủ yếu do khác biệt trong ghi nhận tương quan trung tâm và mô phỏng chuyển động lồi cầu. Kết luận: Lập kế hoạch ảo giúp kiểm soát tốt hơn các chuyển động phức tạp, là xu hướng tất yếu trong phẫu thuật chỉnh hình xương hàm hiện đại.
Tắc động mạch não giữa (ĐMNG) đoạn M1 là nguyên nhân thường gặp của đột quỵ do tắc mạch lớn, gây tàn phế và tử vong cao, bằng chứng thực hành thường quy cho chiến lược hút trực tiếp (ADAPT-A Direct Aspiration First Pass Technique) còn hạn chế. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phương pháp hút huyết khối do tắc đoạn M1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy 01/2023 - 06/2025 các bệnh nhân đột quỵ tắc ĐMNG đoạn M1 được can thiệp lấy huyết khối. Các biến số chính: hiệu quả tái thông mTICI, hiệu quả phục hồi lâm sàng mRS 90 ngày, xuất huyết não, tử vong, biến chứng thủ thuật. Kết quả: 61 ca, tuổi trung bình 65 tuổi, tái thông thành công mTICI≥2b lượt đầu 71,1%, mTICI ≥2b cuối 96,7%. Tỷ lệ độc lập chức năng (mRS 0-2) 90 ngày 54,1%, tử vong 18%, thời gian tái thông 20 phút, xuất huyết não có triệu chứng 13,1%, biến chứng bóc tách, co thắt 4,9%, thuyên tắc mới 3,3%, không có trường hợp thủng mạch máu. Kết luận: Can thiệp nội mạch hút huyết khối trong tắc ĐMNG đoạn M1 cho thấy tỷ lệ tái thông cao, thời gian tái thông nhanh, cải thiện kết cục chức năng với biến chứng thấp.
Tỷ lệ nhiễm khuẩn ở bệnh nhân xơ gan là 25% đến 35%1. Tỷ lệ tử vong khi nhập viện của bệnh nhân xơ gan có nhiễm khuẩn là khoảng 15%, cao gấp 2 lần so với bệnh nhân xơ gan không bị nhiễm khuẩn. Mục tiêu: Khảo sát nồng độ cortisol toàn phần trong huyết thanh ở bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch cổ ổ bụng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 41 bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch ổ bụng theo phân loại Atlanta 2012 2 tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Trung tâm Tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025. Kết quả: Trung vị nồng độ cortisol toàn phần huyết thanh lúc 8 giờ sáng: 271,50 μg/dL, ở BN xơ gan cổ trướng có nhiễm khuẩn dịch màng bụng. Trung vị của điểm MELD Na trong nhóm nghiên cứu là 21 điểm. Trung vị giá trị bạch cầu máu ngoại vi và giá trị CRPhs của các bệnh nhân nghiên cứu lần lượt là 6,48 G/L và 9,05 mg/L. Phân tích ROC cho chỉ số cortisol 8h nhằm dự báo nhiễm khuẩn dịch màng bụng cho thấy diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,27. Nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ số cortisol không có giá trị chẩn đoán cao trong dự đoán nhiễm trùng dịch ổ bụng ở quần thể nghiên cứu này. Kết luận: Nồng độ Cortisol toàn phần huyết thanh có thể là một chỉ số đánh giá tình trạng suy thượng thận ở bệnh nhân xơ gan nhưng không không có giá trị trong dự báo nhiễm trùng nhiễm dịch ổ bụng ở bệnh nhân xơ gan trong nghiên cứu này.