CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Ung thư biểu mô đại trực tràng

  • Duyệt theo:
1 Nghiên cứu tình trạng nảy chồi u trong ung thư biểu mô đại trực tràng / Đào Thị Luận, Đỗ Thị Yến, Nguyễn Văn Chủ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 262 - 268 .- 610

Ung thư đại trực tràng là bệnh lý ác tính thường gặp nhất của đường tiêu hóa với tỷ lệ tử vong cao. Típ thường gặp nhất trong ung thư biểu mô đại trực tràng là típ tuyến thông thường. Nảy chồi u là một yếu tố tiên lượng quan trọng liên quan đến di căn hạch, di căn xa, tái phát tại chỗ, thời gian sống thêm toàn bộ và không bệnh xấu hơn. Mục tiêu nghiên cứu: xác định tình trạng nảy chồi u và mối liên quan giữa nảy chồi u với một số đặc điểm mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả trên 107 người bệnh chẩn đoán ung thư biểu mô đại trực tràng nguyên phát tại Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2017 và 2018. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân tại thời điểm phát hiện bệnh là 63,33±12,68 tuổi, trong đó nhóm tuổi 60-69 chiếm tỷ lệ nhiều nhất (36,4%). Tỷ lệ nam/nữ là 1,23/1. Vị trí u găp nhiều nhất là trực tràng (30,8%), thứ 2 là đại tràng sigma (24,3%). Kích thước u từ 4,5cm chiếm tỷ lệ 51,4%. Phần lớn các trường hợp là ung thư biểu mô tuyến thông thường (83,2%) và biệt hóa vừa (80,4%). Mức độ xâm lấn trên vi thể cho thấy xâm lấn đến dưới thanh mạc hoặc mô xung quanh đại trực tràng (pT3) chiếm tỷ lệ nhiều nhất (57,0%). Tỷ lệ di căn hạch là 42,1%, tỷ lệ xâm nhập mạch và thần kinh lần lượt là 39,3% và 36,4%. Tỷ lệ nảy chồi u độ thấp chiếm 61,7%, độ cao chiếm 17,8%. Tỷ lệ nảy chồi u độ cao ở nhóm có độ xâm lấn sâu, kém biệt hóa, xâm nhập mạch, thần kinh và di căn hạch là cao hơn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05). Kết luận: Nảy chồi u độ cao là yếu tố tiên lượng xấu trong ung thư biểu mô đại trực tràng