CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Phổi
1 Hiệu quả giảm đau sau mổ của phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám trong phẫu thuật cắt phổi có nội soi hỗ trợ / Phạm Việt Anh, Nguyễn Quốc Kính // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 113 - 117 .- 610
Đánh giá hiệu quả giảm đau sau mổ cắt phổi có nội soi hỗ trợ bằng phương pháp phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám với Levobupivacain 0,25% 20ml. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng được thực hiện trên 60 bệnh nhân có chỉ định cắt thùy phổi/phân thùy phổi có nội soi hỗ trợ từ tháng 12/2024 đến 7/2025 tại Bệnh viện K. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm 1 (có phong bế RIPB và sử dụng IV-PCA) và nhóm 2 (IV-PCA đơn thuần). Các chỉ số theo dõi gồm VAS khi nghỉ, vận động, ho và nhu cầu sử dụng morphin sau phẫu thuật. Kết quả: Hiệu quả giảm đau ở Nhóm 1 tốt hơn đáng kể: Điểm VAS ở Nhóm 1 thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các thời điểm đánh giá khi nghỉ, vận động và ho (p < 0.05). Tổng liều morphin tiêu thụ Nhóm 1 sau phẫu thuật thấp hơn đáng kể trong 24 giờ (4.0 ± 2.4 mg vs 23.7 ± 9.2 mg, p < 0.001) và 48 giờ (13.6 ± 3.8 mg vs 36.8 ± 11.7 mg, p < 0.001). Thời gian đến khi cần liều morphin cứu hộ đầu tiên ở Nhóm 1 lâu hơn rất nhiều (12.2 ± 5.5 giờ vs 0.3 ± 0.2 giờ, p < 0.001). Kết luận: Phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám là một kỹ thuật giảm đau hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân cắt phổi có nội soi hỗ trợ. Kỹ thuật này giúp giảm đáng kể mức tiêu thụ morphin, cải thiện chất lượng giảm đau và an toàn, ít tác dụng phụ. Phương pháp này đem tới cho các bác sĩ gây mê một lựa chọn bổ sung trong giảm đau đa mô thức chu phẫu.
2 Mô lách lạc chỗ trong phổi : báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn / Phạm Duy Quang, Nguyễn Thị Mỹ Xuân An, Phạm Quang Thông, Lê Ngọc Diệu Thảo, Hoàng Văn Thịnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 140 - 146 .- 610
Bệnh lý lách lạc chỗ là sự cấy ghép mô lách trưởng thành tự thân vào vị trí giải phẫu bất thường, xảy ra sau một chấn thương vỡ lách hoặc phẫu thuật cắt lách. Vị trí thường gặp là trong phúc mạc ổ bụng, quanh giường lách. Tuy nhiên vị trí ngoài phúc mạc ổ bụng cũng được ghi nhận, theo đó vị trí thường gặp nhất là trong lồng ngực, do có tiền sử chấn thương lách và cơ hoành cùng lúc. Vì tỷ lệ xuất hiện thấp, việc chẩn đoán lách lạc chỗ trong lồng ngực là một thách thức, đặc biệt khi tổn thương xuất hiện giống như một bệnh lý ác tính trên hình ảnh học. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam, 25 tuổi, nhập viện vì tổn thương ở phổi, theo dõi u phổi, với tiền sử bị tai nạn giao thông và phẫu thuật cắt lách. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy hình ảnh mô lách lành tính lạc chỗ ở vùng màng phổi-phổi.
3 Chẩn đoán đột biến EGFR trong ung thư phổi không tế bào nhỏ với các mẫu bệnh phẩm dịch khoang cơ thể không có tế bào ác tính / Nguyễn Sơn Lam, Trần Trang Thủy, Nguyễn Ngọc Vũ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 170 - 176 .- 610
Dựa vào tính chất các mẫu dịch khoang cơ thể có hiện diện các mảnh DNA lơ lửng giúp thực hiện chẩn đoán đột biến EGFR. Từ nguyên lý này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu sau: (a) Khảo sát tỉ lệ phát hiện đột biến EGFR trong các mẫu bệnh phẩm mô học đúc khối paraffin. (b) Khảo sát tỉ lệ phát hiện đột biến EGFR trong các mẫu dịch khoang cơ thể. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca lâm sàng, tiến cứu, thống kê mô tả cắt ngang. Các trường hợp UTPKTBN được chẩn đoán đột biến EGFR bằng các Test EGFR Version 1 và EGFR Version 2. Kết quả: Có 117 ca bệnh trong nghiên cứu: Kết quả chẩn đoán đột biến gen EGFR trên mẫu mô học đúc khối paraffin: (+) 49 ca # 41,88%, đa số vẫn là hai loại đột biến Exon 19 Deletion và Exon 21 L858R (53% và 23%) nhạy với các thuốc ức chế tyrosin kinase nhóm I và II. Kết quả chẩn đoán đột biến EGFR trên các mẫu dịch khoang cơ thể với đa số mẫu dịch khoang cơ thể thực hiện chẩn đoán đột biến EGFR là dịch màng phổi (91 ca tương đương 77,77%). Tỉ lệ phát hiện đột biến trong mẫu dịch màng phổi và dịch não tủy cao nhất (29,67% và 83,33%). So sánh tỉ lệ phát hiện đột biến EGFR trên mẫu dịch khoang cơ thể (35 /117 ca tương đương 29,91%) với tỉ lệ phát hiện trên mẫu mô học thấp hơn có ý nghĩa thống kê (29,91% so với 41,88%, giá trị p = 0,0125). Kết luận: Khảo sát chẩn đoán đột biến EGFR trong dịch các khoang cơ thể cho thấy đây là một bước ứng dụng mới giúp chẩn đoán đột biến EGFR ở các trường hợp khó lấy được mẫu bệnh phẩm mô học, đặc biệt trong các ca bệnh UTPKTBN tiến triển di căn. Cần nâng cao kỹ thuật thực hiện chẩn đoán đột biến EGFR trong mẫu dịch khoang cơ thể.





