CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: HPV
1 Thực trạng tiêm vắc xin phòng HPV của nữ sinh viên y tại Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan / Phùng Quốc Điệp, Bùi Minh Thu, Lê Thị Thanh Xuân // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 832-840 .- 610
Tiêm vắc xin phòng HPV là phương pháp chủ động và dự phòng hiệu quả các bệnh do HPV gây ra ở nữ giới, đặc biệt là ung thư cổ tư cung. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 874 nữ sinh viên trường Đại học Y Hà Nội và trường Cao đẳng Y tế Bạch Mai năm 2025 nhằm mô tả thực trạng tiêm vắc xin phòng HPV và một số yếu tố liên quan theo bộ câu hỏi thiết kế có sẵn. Kết quả cho thấy tỷ lệ nữ sinh viên đã tiêm ít nhất một mũi vắc xin là 35,8% và tỷ lệ tiêm đầy đủ 3 mũi là 27,9%. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy các yếu tố liên quan đến việc thực hành tiêm đủ 3 mũi vắc xin bao gồm: Năm học từ thứ hai trở lên, có kiến thức đạt và thái độ tích cực về vắc xin. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần thiết phải có can thiệp nhằm nâng cao thực hành tiêm vắc xin phòng HPV cho nữ sinh viên y, đội ngũ cán bộ y tế tương lai.
2 Nhận thức về vi-rút HPV của sinh viên y dược: Từ những hiểu lầm về phòng bệnh đến sự thiếu hụt kiến thức ở nam giới / Lương Hoàng Thành, Nguyễn Trung Kiên // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 33-41 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 727 sinh viên tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội từ 03/2025 đến 03/2026, sử dụng bộ câu hỏi hiệu chỉnh từ thang đo KAPPAS nhằm đánh giá mức độ hiểu biết, khoảng trống kiến thức về HPV và mối liên quan giữa kiến thức với thực hành tiêm chủng. Dữ liệu được thu thập trực tiếp/trực tuyến, phân tích bằng thống kê mô tả, Chi-bình phương và hồi quy logistic đa biến.
3 Đánh giá giá trị xét nghiệm HPV, tế bào học và đồng sàng lọc trong tầm soát ung thư cổ tử cung / Nguyễn Hoàng Việt, Nguyễn Kim Đồng, Nguyễn Khánh Huyền, Vũ Huy Lương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 60 - 65 .- 610
Đánh giá hiệu quả xét nghiệm HPV, tế bào học và đồng sàng lọc trong tầm soát ung thư cổ tử cung. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 319 phụ nữ khám bệnh tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, đã thực hiện xét nghiệm tế bào học, xét nghiệm HPV típ nguy cơ cao và mô bệnh học cổ tử cung từ tháng 1/2024 đến tháng 10/2024. Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 26.0. Kết quả: 10 trường hợp (3,1%) có kết quả HPV và PAP đều âm tính; 14 trường hợp (4,4%) có kết quả HPV âm tính, PAP dương tính; 149 trường hợp (46,7%) có kết quả HPV dương tính, PAP âm tính; 146 trường hợp (45,8%) có kết quả HPV và PAP đều dương tính. Xét nghiệm HPV típ nguy cơ cao có độ nhạy là 92,4%, giá trị dự đoán dương tính 98,3%. Xét nghiệm tế bào học có độ nhạy là 51,0%, giá trị dự đoán dương tính 100%. Đồng sàng lọc (co-testing) là phương pháp tốt nhất trong sàng lọc ung thư cổ tử cung với độ nhạy cao nhất (96,8%) và độ chính xác tốt (95,3%) (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,01). Kết luận: Xét nghiệm HPV có độ nhạy cao hơn so với xét nghiệm tế bào học trong tầm soát ung thư cổ tử cung, đồng sàng lọc (co-testing) nên được sử dụng khi người bệnh có điều kiện.





