CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Lọc máu chu kỳ
1 Thực trạng rối loạn lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thận Hà Nội / Trần Thị Tuyết, Nguyễn Thị Thi, Trần Thị Phương Lan, Vương Thị Hòa, Ngô Trung Dũng, Trần Tuấn Tú // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 543-552 .- 610
Nghiên cứu nhằm xác định tình trạng rối loạn lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Thận Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 390 người bệnh từ tháng 01/2026 đến tháng 03/2026. Tình trạng lo âu được đánh giá bằng thang điểm Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS). Phân tích hồi quy logistic đơn biến và đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ rối loạn lo âu ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thận Hà Nội là 14,1%. Các yếu tố liên quan độc lập với tình trạng lo âu gồm: thu nhập trên 10 triệu đồng/tháng, mức độ hỗ trợ xã hội thấp/trung bình, mắc bệnh kèm theo, suy giảm chất lượng giấc ngủ và lo ngại về quy trình lọc máuRối loạn lo âu ở người bệnh lọc máu chu kỳ còn ở mức đáng lưu ý và liên quan đến nhiều yếu tố tâm lý - xã hội và lâm sàng.
2 Tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2023 / Lê Thanh Toàn, Lê Vĩnh Hoàng Long, Cà Thị Mỹ Linh, Trần Ngọc Hoan, Dương Thị Ngọc Châu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 184 - 189 .- 610
Nghiên cứu nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân (BN) suy thận mạn (STM) đang lọc máu chu kỳ (LMCK) tại Bệnh viện Chợ Rẫy (BVCR) năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện 132 BN LMCK tại khoa Thận nhân tạo BVCR từ tháng 4/2023 đến tháng 5/2023. Đánh giá TTDD theo thang điểm SGA-DMS, BMI, các xét nghiệm cận lâm sàng. Kết quả và bàn luận: Theo SGA-DMS có 72,26% BN suy dinh dưỡng (SDD), theo BMI có 34,85% BN SDD. SDD liên quan có ý nghĩa thống kê với các yếu tố: học vấn, ăn trong LMCK, thời gian LMCK (>5 năm), có từ 2 bệnh lý kèm theo, giảm albumin, giảm prealbumin, giảm hemoglobin, giảm lympho. Các yếu tố giới tính, nghề nghiệp, bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp liên quan không có ý nghĩa thống kê với SDD. Kết luận: Tỉ lệ SDD ở BN STM LMCK rất cao, cần thực hiện các phương pháp tầm soát sớm, để can thiệp kịp thời.





