CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Viêm tụy cấp

  • Duyệt theo:
1 Giá trị của một số chỉ số huyết học mở rộng trong tiên lượng mức độ nặng của viêm tuỵ cấp không do nguyên nhân cơ học / Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Quang Tùng, Đường Thị Thúy Hường, Dương Thu Phương, Tống Thị Hương Lan // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 233-240 .- 610

Tiên lượng sớm mức độ nặng của viêm tụy cấp (VTC) đóng vai trò quan trọng trong định hướng điều trị. Nghiên cứu thuần tập hồi cứu trên 108 bệnh nhân (BN) VTC không do nguyên nhân cơ học tại thời điểm nhập viện. Giá trị tiên lượng mức độ nặng của các chỉ số huyết học mở rộng (Neut, NLR, PLR, HFLC%, MicroR, IG%…) được đánh giá qua diện tích dưới đường cong ROC (AUC) và chỉ số Youden. NLR và MicroR có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm VTC nặng (n = 20) và nhẹ (n = 88) với p < 0,05. Phân tích ROC cho thấy NLR có giá trị tiên lượng mức độ nặng tốt nhất với AUC = 0,709 (95% CI: 0,587 - 0,831; p = 0,004). Tại điểm cắt > 5,66, NLR dự báo diễn tiến nặng với độ nhạy 70,0% và độ đặc hiệu 61,4%. NLR và Neut đều có giá trị tiên lượng âm tính (NPV) cao, lần lượt là 90% và 93,2%. NLR và Neut hỗ trợ đắc lực cho bác sĩ lâm sàng trong phân tầng nguy cơ và tối ưu hoá xử trí BN VTC.

2 Diễn tiến độ thanh thải triglyceride huyết thanh và mối liên quan với biến chứng nội viện trong viêm tụy cấp do tăng triglyceride: Kết quả bước đầu từ nghiên cứu quan sát tiến cứu / Nguyễn Văn Trung, Huỳnh Thị Hồng Ngọc, Huỳnh Hiếu Tâm // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 165-174 .- 610

Nghiên cứu quan sát tiến cứu được thực hiện trên 32 bệnh nhân viêm tụy cấp do tăng triglyceride máu tại Bệnh viện Trưng Vương nhằm mô tả diễn tiến độ thanh thải triglyceride huyết thanh và khảo sát mối liên quan bước đầu giữa chỉ số này với các biến chứng nội viện. Độ thanh thải triglyceride tăng dần từ 33,8 ± 13,2% sau 24 giờ lên 52,4 ± 16,7% sau 48 giờ và 66,3 ± 18,2% sau 72 giờ. Tỷ lệ bệnh nhân thuộc nhóm thanh thải nhanh là 62,5% tại thời điểm 48 giờ. Độ thanh thải triglyceride tại 48 giờ và 72 giờ có tương quan nghịch với số ngày nằm viện, với r lần lượt là -0,46 và -0,53. Độ thanh thải triglyceride cho thấy khả năng phân biệt bước đầu đối với biến chứng tại tụy là 0,89 (KTC 95%: 0,69 – 1,00) ở cả hai thời điểm, trong khi AUC đối với biến chứng ngoài tụy lần lượt là 0,90 (KTC 95%: 0,79 – 1,00) và 0,91 (KTC 95%: 0,81 – 1,00). Kết quả bước đầu gợi ý độ thanh thải triglyceride có thể là một chỉ số động hữu ích trong theo dõi sớm ở giai đoạn nội viện.

3 Mối liên quan giữa đa hình rs1800629 gen TNFα với SIRS và điểm BISAP ở người bệnh viêm tụy cấp / Tiêu Văn Cường, Thái Thị Hồng Nhung // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 804-812 .- 610

Viêm tụy cấp là bệnh lý có diễn tiến lâm sàng đa dạng, trong đó một số trường hợp có thể nhanh chóng tiến triển nặng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, thực hiện trên 58 người bệnh viêm tụy cấp nhằm khảo sát mối liên quan giữa đa hình rs1800629 của gen TNFα với SIRS và điểm BISAP ở người bệnh viêm tụy cấp tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh từ 06/2025 đến 01/2026. Kết quả cho thấy kiểu gen GG chiếm 62,1%, GA chiếm 37,9%, alen G chiếm 81,0% và alen A chiếm 19,0%; phân bố kiểu gen phù hợp cân bằng Hardy–Weinberg. Nhóm mang kiểu gen GA có tỷ lệ SIRS và BISAP mức trung bình–nặng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm GG. Sau hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu, kiểu gen GA vẫn còn duy trì mối liên quan có ý nghĩa thống kê với SIRS và BISAP mức trung bình–nặng, trong khi alen A liên quan với BISAP mức trung bình–nặng. Kết quả này gợi ý đa hình rs1800629 của gen TNFα có liên quan với một số biểu hiện viêm toàn thân sớm ở người bệnh viêm tụy cấp, bao gồm hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (SIRS) và điểm BISAP mức trung bình–nặng.

4 Xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp Bromocresol Green trong xác định nồng độ albumin huyết tương và vai trò của xét nghiệm albumin trong đánh giá độ nặng trên bệnh nhân viêm tụy cấp tại Bệnh viện Chợ Rẫy / Nguyễn Văn Sĩ, Hồ Khắc Minh, Quách Thanh Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 333 - 336 .- 610

Viêm tụy cấp (VTC) là một bệnh lý có thể gây tử vong, và nồng độ albumin huyết tương thấp được xem là một chỉ số liên quan chặt chẽ đến mức độ nặng của bệnh. Nghiên cứu này được thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy nhằm xác nhận độ tin cậy của phương pháp xét nghiệm Bromocresol Green (BCG) trên máy Cobas c702 và đánh giá vai trò của albumin trong việc tiên lượng VTC. Nghiên cứu cắt ngang trên 138 bệnh nhân VTC đã chứng minh phương pháp BCG trên hệ thống Cobas c702 có độ chính xác và độ lặp lại cao, với hệ số biến thiên và độ chệch đều nằm trong giới hạn cho phép. Kết quả cho thấy nồng độ albumin trung bình của bệnh nhân VTC là 3,52 ± 0,69 g/dL và 32,5% trong số họ bị giảm albumin máu. Nồng độ albumin thấp này có mối tương quan với mức độ nặng của bệnh. Tóm lại, xét nghiệm albumin bằng phương pháp BCG trên máy Cobas c702 là một công cụ đáng tin cậy. Việc theo dõi chỉ số này có thể giúp bác sĩ đánh giá sớm mức độ nghiêm trọng và tiên lượng lâm sàng ở bệnh nhân VTC, từ đó có thể cải thiện hiệu quả điều trị và giảm tỷ lệ tử vong.

5 Khảo sát giá trị của thang điểm haps và bisap trong dự đoán mức độ nặng ở bệnh nhân viêm tụy cấp / Nguyễn Công Long, Trần Thị Quỳnh Anh, Đào Việt Hằng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 189 - 193 .- 610

Khảo sát giá trị của thang điểm HAPS và BISAP trong tiên lượng mức độ nặng ở người bệnh viêm tụy cấp tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2024-2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 120 bệnh nhân được chẩn đoán viêm tụy cấp điều trị tại Trung tâm Tiêu hoá - Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11/2024 đến tháng 06/2025. Thang điểm HAPS và BISAP được đánh giá trong vòng 24 giờ đầu. Kết quả: Thang điểm HAPS có giá trị tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp ở mức độ khá, với diện tích dưới đường cong ROC (AUC) là 0,752 (KTC 95%= 0,672 – 0,878). Tại điểm cut-off HAPS=3 điểm, độ nhạy đạt 61,1%, độ đặc hiệu 84,3%, giá trị tiên đoán dương 49,7% và giá trị tiên đoán âm 92,5%. Thang điểm BISAP có giá trị tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp ở mức độ tốt, với diện tích dưới đường cong ROC (AUC) là 0,928 (KTC 95%= 0,878 – 0,978). Tại điểm cut-off BISAP=3 điểm, độ nhạy đạt 81,3%, độ đặc hiệu 90,4%, giá trị tiên đoán dương (PPV) 66,5%, và giá trị tiên đoán âm 96,9%. Kết quả có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Kết luận: Thang điểm BISAP có giá trị tốt hơn thang điểm HAPS trong tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp, đặc biệt là trong giai đoạn 24 giờ đầu nhập viện.