CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Chẩn đoán
1 Giá trị của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán và phân độ chấn thương tụy / Nguyễn Thị Nguyệt, Lê Thanh Dũng, Nguyễn Duy Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 344 - 348 .- 610
Đánh giá vai trò của cắt lớp vi tính (CLVT) trong chẩn đoán và phân độ chấn thương tụy. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 70 bệnh nhân ≥18 tuổi có chấn thương tụy được xác định bằng CLVT, điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 01/2022 đến 07/2025. Thu thập dữ liệu lâm sàng, xét nghiệm, hình ảnh CLVT và so sánh với kết quả phẫu thuật khi có. Kết quả: Nam giới chiếm 78,6%, tuổi trung bình 37,7 ± 15,69. Tai nạn giao thông là nguyên nhân phổ biến nhất (84,3%). Triệu chứng chủ yếu là đau bụng (100%); tăng amylase máu gặp ở 88,1%. Tổn thương trên CLVT gồm: dịch ổ bụng (100%), dịch quanh tụy (97,1%), đụng dập nhu mô (91,4%), đường rách nhu mô (85,7%), tụ máu nhu mô (20%), nghi ngờ tổn thương ống tụy (52,9%). Trong 46 bệnh nhân phẫu thuật, có 40 bệnh nhân (87,0%) được xác nhận chấn thương tụy. Giá trị chẩn đoán của các dấu hiệu: dịch quanh tụy (độ nhạy 97,5%, đặc hiệu 16,7%), đụng dập tụy (97,4%; 25%), tụ máu trong tụy (85,7%; 100%), đường vỡ tụy (97,1%; 72,7%), đứt rời tụy (52%; 95,2%), nghi ngờ tổn thương ống tụy (93,8%; 64,3%). CLVT xác định chính xác vị trí tổn thương (100% ở tất cả các vị trí). So sánh phân độ cho thấy CLVT thường đánh giá thấp mức độ tổn thương, nhất là ở phân độ I và III; các phân độ cao (IV, V) thường trùng khớp với phẫu thuật. Kết luận: CLVT là phương tiện hình ảnh có giá trị cao trong phát hiện sớm, xác định vị trí và phân độ chấn thương tụy, qua đó hỗ trợ lập kế hoạch điều trị và quyết định phẫu thuật.
2 So sánh giá trị xét nghiệm Rapid Plasma Regain và Treponema pallidum hemagglutination trong chẩn đoán và sàng lọc bệnh giang mai / Nguyễn Thị Thu Thủy, Trần Anh Linh, Trần Kim Thanh, Thang Tiến Huy // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 123 - 126 .- 610
So sánh giá trị của xét nghiệm định tính RPR và TPHA trong chẩn đoán và sàng lọc bệnh giang mai tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Người bệnh đến khám được chỉ định xét nghiệm định tính đồng thời cả RPR và TPHA, với phương pháp so sánh, mô tả cắt ngang vừa hồi cứu và tiến cứu trên tổng số 173 mẫu tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ 01/2022-10/2023. Kết quả: Trong 173 mẫu dương tính, có 116 (67%) mẫu dương tính với TPHA và 87 (51,3%) mẫu dương tính với RPR. Sử dụng xét nghiệm đặc hiệu TPHA làm tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh giang mai thì xét nghiệm RPR có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm của xét nghiệm lần lượt là 74,1%; 98,2%; 98,9%; 65,1%. Tỷ lệ tương đồng và hệ số Cohen’s Kappa giữa xét nghiệm TPHA và RPR là 82,1% và 0,68. Kết luận: Hai xét nghiệm TPHA và RPR là rất tin cậy trong hỗ trợ chẩn đoán và sàng lọc bệnh giang mai. Sử dụng xét nghiệm RPR và TPHA trong chẩn đoán và sàng lọc bệnh giang mai là rất cần thiết cần được chỉ định để tránh bỏ sót ca bệnh do dương tính giả sinh học hay âm tính giả trong giang mai thời kỳ I, II.
3 Đánh giá độ chính xác của siêu âm tim qua thành ngực trong chẩn đoán tứ chứng Fallot / Hồ Xuân Tuấn, Ngô Hà Tú Nhi // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 82 - 87 .- 610
Tứ chứng Fallot là một trong những bệnh tim bẩm sinh phức tạp và phổ biến nhất ở trẻ em. Trong số các phương tiện chẩn đoán, siêu âm tim qua thành ngực giữ vai trò nền tảng nhờ ưu điểm không xâm lấn, dễ thực hiện, sẵn có ở hầu hết cơ sở y tế và đặc biệt có khả năng cung cấp hình ảnh chi tiết về cấu trúc tim. Mục tiêu: Đánh giá độ chính xác của siêu âm tim qua thành ngực trong chẩn đoán tứ chứng Fallot. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu có phân tích trên 61 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân TOF tại Bệnh viện Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2022. Kết quả: Các dị tật TLT, hẹp đường ra thất phải, ĐMC cưỡi ngựa đều tương thích về mặt số lượng trường hợp giữa SAT qua thành ngực và phẫu thuật/can thiệp. Vị trí TLT (bao gồm kích thước lỗ thông) và vị trí hẹp đường ra thất phải trên SAT trước mổ và trong lúc phẫu thuật có mức tương đồng cao. Ngoài ra, đánh giá các tổn thương tim phối hợp có độ nhạy, độ đặc hiệu, NPV và độ chính xác khá cao, tuy nhiên PPV thấp. Kết luận: Siêu âm tim qua thành ngực cho thấy độ chính xác cao trong chẩn đoán tổn thương điển hình của TOF cũng như các tổn thương phối hợp, góp phần định hướng điều trị hiệu quả cho bệnh nhân.
4 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trong chẩn đoán u tế bào mầm vùng cùng cụt tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 / Hồ Trần Bản, Nguyễn Thị Mỹ Linh, Mai Hoàng Vĩnh Kha, Chu Khánh An, Võ Kim Kha, Trần Quang Minh, Tống Thị Mai Quỳnh, Võ Thị Cẩm Quỳnh, Trần Võ Đức Tân, Lê Sĩ Phong, Vũ Trường Nhân, Huỳnh Thị Vũ Quỳnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 45 - 49 .- 610
Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mô bệnh học ở bệnh nhi mắc u tế bào mầm vùng cùng cụt được phẫu thuật tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2018 đến 31/12/2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca ở tất cả bệnh nhi dưới 16 tuổi được chẩn đoán UTBM vùng cùng cụt và được phẫu thuật tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2018 đến 31/12/2024. Kết quả: 34 bệnh nhân thỏa tiêu chí chọn mẫu gồm 23,5% nam và 76,5% nữ, tuổi trung vị 2 tháng. Triệu chứng phổ biến nhất là phát hiện u (94,1%). Kích thước u trung bình trên siêu âm và CT lần lượt là 63,09 mm và 86,52 mm. 38,2% ca tăng AFP và 23,5% ca tăng β-hCG. Tăng AFP đơn thuần là yếu tố dự báo có ý nghĩa thống kê đối với nhóm U ác tính (p < 0,001). U quái trưởng thành chiếm đa số (73,5%). Kết luận: Triệu chứng UTBM vùng cùng cụt chủ yếu là phát hiện u với phần lớn u là dạng hỗn hợp trên hình ảnh học và u quái trưởng thành trên mô bệnh học.
5 U trung mạc biệt hóa cao dạng nhú chẩn đoán hồi cứu trong 10 năm 2013 – 2023 / Nguyễn Sơn Lam // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- 1859-1868 Y học Việt Nam (Điện tử) Số CD1 .- Tr. 505 - 512 .- 610
Khảo sát các yếu tố giải phẫu bệnh các u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú. Khảo sát một số yếu tố về lâm sàng, hình ảnh học và điều trị của loại u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các bệnh nhân (BN) được chẩn đoán u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú (Well differentiated papillary mesothelial tumor) sau khi chẩn đoán hồi cứu 387 ca u trung mạc màng phổi nhập viện Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong 10 năm (01/01/2013 - 01/01/2023). Hồi cứu, thống kê mô tả, loạt ca bệnh: U trung mạc biệt hóa cao dạng nhú. Sử dụng phần mềm MS Excel 2013, phép kiểm T-Test, với giá trị xác định ý nghĩa thống kê < 0,05. Chẩn đoán giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịch với các phương pháp nhuộm: HE thường qui, hóa mô miễn dịch: D2-40, Calretinin, WT-1, Mesothelin, CK 5/6, BAP1, L1CAM, MTAP, CK7, TTF-1, CEA, BER-EP4. Kết quả: Tổng số ca hồi cứu sàng lọc: 387 ca u trung mạc màng phổi, tổng số 19 ca CĐ sau cùng: u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú (4,91%). Giới tính: Nam: 6 ca (31,58%) - Nữ: 13 ca (68,42%). Tuổi trung bình: 41,79 ± 5,83 tuổi (Thấp nhất: 31 tuổi - Cao nhất: 52 tuổi). Phát hiện thể amiante trong dịch rửa phế quản phế nang: 3 ca/19 ca (15,79%). Tiền sử có tiếp xúc với amiante: 11 ca/19 ca (57,89%). Tình trạng hút thuốc lá: 6 ca/19 ca (31,58%). Kết quả điều trị: 6 ca khỏi bệnh hoàn toàn (không tái phát tiến triển theo dõi # 10 năm); 3 ca tái phát tại vị trí khác được xử trí: Hóa trị và làm dày dính màng phổi, sau đó theo dõi đến 31/12/2023 không bị tái phát lại. Có 10 ca tái phát tiến triển chuyển dạng thành u trung mạc ác tính dạng biểu mô, được xử trí: Hóa trị bộ đôi platinum và epotoside. Thời gian sống còn toàn bộ OS (10 ca bệnh tái phát tiến triển): 73,69 ± 8,52 tháng (Thấp nhất 17,3 tháng - Cao nhất 89,6 tháng). Kết luận: U trung mạc biệt hóa cao dạng nhú là loại bướu giáp biên ác của màng phổi, không xâm lấn vào mô đệm màng phổi hay mô phổi lân cận. Hiện nay được xếp vô nhóm u trung mạc lành tính và tiền xâm lấn. Cần chẩn đoán phân biệt với các loại u khác của màng phổi: U dạng tuyến, u trung mạc ác tính tại chỗ và u trung mạc ác tính dạnh biểu mô (khu trú & lan tỏa). Hiện nay, trong hoàn cảnh lâm sàng của bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, điều trị được lựa chọn vẫn là kết hợp bóc vỏ màng phổi và hóa trị bộ đôi platinum - epotoside.
6 Lymphôm hodgkin với phản ứng u hạt : một nhầm lẫn trong chẩn đoán từ tế bào học đến giải phẫu bệnh / Trần Nguyễn Kim Thủy, Giang Mỹ Ngọc, Nguyễn Hồng Ngọc, Nguyễn Đức Quang, Thái Anh Tú // .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 519 - 529 .- 610
Lymphôm Hodgkin (HL) là một khối u tân sinh có nguồn gốc từ tế bào B của trung tâm mầm, đặc trưng bởi sự hiện diện của các tế bào Hodgkin và Reed-Sternberg (HRS) với tỷ lệ thấp (0,1-10%) xen lẫn trong nền giàu tế bào miễn dịch phản ứng. Trong lymphôm, môi trường vi mô tế bào không phải u xung quanh các tế bào HRS ngày càng được công nhận là một yếu tố quan trọng trong sinh học và sự tiến triển của HL, cũng như trong tiên lượng và đáp ứng với điều trị. Nó thay đổi theo phân loại mô học và trạng thái liên quan EBV. Các tế bào lymphô nền trong hầu hết các trường hợp là tế bào T kèm theo số lượng bạch cầu ái toan, mô bào, bạch cầu trung tính và tương bào khác nhau. U hạt dạng biểu mô có thể khu trú hoặc đôi khi chiếm ưu thế. Trong một số trường hợp, phản ứng này có thể lan tỏa, khiến các tế bào u bị che khuất, đặc biệt khi mật độ tế bào khối u thấp. Điều này dễ dẫn đến nhầm lẫn với tổn thương lành tính trong các kết quả tế bào học. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 26 tuổi đến khám với tình trạng nổi hạch cổ. Hình ảnh học gợi ý lymphôm, và chọc hút bằng tế bào bằng kim nhỏ cho thấy có các tế bào dạng biểu mô chiếm ưu thế và rải rác các tế bào Hodgkin và Reed-Sternberg. Sinh thiết trọn hạch xác nhận chẩn đoán HL với phản ứng u hạt. Hóa mô miễn dịch cho thấy các tế bào u dương tính mạnh với CD30 và biểu hiện PAX5 yếu, khẳng định chẩn đoán.
7 Giá trị của sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán bướu tuyến nước bọt / Châu Đức Toàn, Võ Duy Phi Vũ, , Nguyễn Việt Dũng, Đặng Thanh Hào, Nguyễn Trương Đức Hoàng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 48 - 55 .- 610
Xác định độ an toàn và giá trị của sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán bướu tuyến nước bọt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca hồi cứu 102 bệnh nhân được chẩn đoán bướu tuyến bọt, có chỉ định sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm và được phẫu thuật tại khoa Ngoại đầu cổ, tai mũi họng, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 3/2023 đến tháng 3/2024. Kết quả: Chúng tôi thu nhận được 102 bệnh nhân, tuổi trung bình là 53,5 (17 – 83 tuổi). Bướu tuyến mang tai chiếm đa số 90,2%; bướu tuyến dưới hàm chiếm 9,8%; không có trường hợp nào bướu tuyến dưới lưỡi. 100% trường hợp được thực hiện sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm trước mổ, tỉ lệ không đủ mô bệnh phẩm chiếm 2,9%. Kết quả mô bệnh học sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm: bướu hỗn hợp chiếm đa số 41,4%; bướu Warthin chiếm 31,4%; bướu ác tính 15,1% và bướu lành tính khác 12,1%. Sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm chẩn đoán bướu ác tính với độ nhạy 93,3%; độ đặc hiệu 98,8%; chẩn đoán chính xác loại mô học 85,7% và độ biệt hóa là 28,6%. Tỉ lệ phẫu thuật là 100%. Không ghi nhận bất kỳ biến chứng cấp tính sau thủ thuật (tụ máu, biến chứng liệt thần kinh VII, biến chứng dò nước bọt). Kết luận: Sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm là một phương pháp chẩn đoán có giá trị với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm rất cao, đồng thời là thủ thuật rất an toàn với tỉ lệ biến chứng cấp tính thấp trong chẩn đoán bướu tuyến nước bọt.
8 Giá trị của xét nghiệm Xpert MTB/RIF chẩn đoán lao phổi trong mẫu dịch rửa phế quản phế nang tại bệnh viện Đa khoa Đồng Nai / Đào Minh Ý // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 42-48 .- 610
Lao phổi vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Các phương pháp chẩn đoán truyền thống, như soi kính hiển vi AFB, có độ nhạy thấp, đặc biệt khi tải lượng vi khuẩn trong mẫu BAL rất ít. Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá giá trị chẩn đoán của xét nghiệm Xpert MTB/RIF trong việc phát hiện lao phổi ở 125 bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh tại bệnh viện Đa khoa Đồng Nai. Đối tương và phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu thử nghiệm chẩn đoán, được thực hiện trên 125 bệnh nhân nghi ngờ mắc lao phổi có chỉ định nội soi phế quản lấy mẫu dịch rửa phế quản phế nang (BAL) tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai từ tháng 4/2024 đến tháng 9/2024. Mẫu BAL được xét nghiệm bằng soi kính hiển vi AFB, Xpert MTB/RIF và nuôi cấy MGIT (tiêu chuẩn vàng). Giá trị chẩn đoán của Xpert MTB/RIF được đánh giá thông qua độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tính (PPV) và giá trị tiên đoán âm tính (NPV), đồng thời so sánh với phương pháp soi kính hiển vi AFB.
9 Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nấm móng tay do candida tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 12/2024 đến tháng 5/2025 / Nguyễn Thị Hà Minh, Phạm Quỳnh Hoa, Nguyễn Thị Hà Vinh, Chu Đại Dương, Đỗ Thị Thu Hiền // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 143 - 148 .- 610
Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân nấm móng tay do Candida. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 65 bệnh nhân đến khám và được chẩn đoán nấm móng tay do Candida tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 12/2024 đến tháng 5/2025. Kết quả: Tỉ lệ nhiễm nấm móng tay do Candida ở nữ cao hơn nam (78,5% so với 21,5%), phổ biến nhất ở nhóm 40-59 tuổi (44,6%). Phần lớn bệnh nhân sống ở thành thị (66,1%), cao hơn so với nông thôn (33,9%). Về nghề nghiệp, nhóm nội trợ chiếm tỉ lệ cao nhất (24,6%), tiếp theo là nhân viên văn phòng (21,5%). Về thói quen sinh hoạt, 67,7% bệnh nhân có tiếp xúc thường xuyên với nước và hóa chất. Các triệu chứng lâm sàng phổ biến gồm: tổn thương cả hai bàn tay (70,8%), dày móng (90,8%), móng nứt gãy (63,1%) và viêm quanh móng (44,6%). Xét nghiệm nuôi cấy nấm cho thấy Candida albicans chiếm tỉ lệ cao nhất (43,1%), Candida tropicalis (32,3%), Candida glabrata (9,2%), Candida krusei (9,2%). Kết luận: Nấm móng tay do Candida chủ yếu ảnh hưởng đến phụ nữ trung niên với đặc điểm lâm sàng nổi bật là dày móng, móng nứt gãy và viêm quanh móng. Các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là tiếp xúc với nước, hóa chất và tiền sử loạn dưỡng móng. Candida albicans và Candida tropicalis là hai chủng nấm phổ biến nhất gây bệnh, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định đúng loài nấm để nâng cao hiệu quả điều trị.
10 Kết quả sinh thiết thận qua da dưới hướng dẫn siêu âm tại Trung tâm Nhi khoa Bệnh viện Bạch Mai / Mai Thành Công, Nguyễn Thị Thuý Liên, Lê Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Tố Ngân, Phạm Văn Đếm, Ngô Thị Tố Ngân, Nguyễn Thành Nam, Đào Khánh Ly, Hoàng Mai Phương // .- 2023 .- Tập 170 - Số 9 - Tháng 10 .- Tr. 86-94 .- 610
Nghiên cứu cắt ngang trên 69 trẻ được thực hiện 74 lần sinh thiết thận qua da dưới hướng dẫn của siêu âm tại Trung tâm Nhi khoa bệnh viện Bạch Mai nhằm đánh giá tổn thương mô bệnh học và các biến chứng sau sinh thiết. Chẩn đoán sau sinh thiết hay gặp nhất là viêm thận lupus (56,5%) và hội chứng thận hư (HCTH) kháng steroid (18,8%).





