U trung mạc biệt hóa cao dạng nhú chẩn đoán hồi cứu trong 10 năm 2013 – 2023
Tác giả: Nguyễn Sơn LamTóm tắt:
Khảo sát các yếu tố giải phẫu bệnh các u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú. Khảo sát một số yếu tố về lâm sàng, hình ảnh học và điều trị của loại u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các bệnh nhân (BN) được chẩn đoán u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú (Well differentiated papillary mesothelial tumor) sau khi chẩn đoán hồi cứu 387 ca u trung mạc màng phổi nhập viện Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong 10 năm (01/01/2013 - 01/01/2023). Hồi cứu, thống kê mô tả, loạt ca bệnh: U trung mạc biệt hóa cao dạng nhú. Sử dụng phần mềm MS Excel 2013, phép kiểm T-Test, với giá trị xác định ý nghĩa thống kê < 0,05. Chẩn đoán giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịch với các phương pháp nhuộm: HE thường qui, hóa mô miễn dịch: D2-40, Calretinin, WT-1, Mesothelin, CK 5/6, BAP1, L1CAM, MTAP, CK7, TTF-1, CEA, BER-EP4. Kết quả: Tổng số ca hồi cứu sàng lọc: 387 ca u trung mạc màng phổi, tổng số 19 ca CĐ sau cùng: u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú (4,91%). Giới tính: Nam: 6 ca (31,58%) - Nữ: 13 ca (68,42%). Tuổi trung bình: 41,79 ± 5,83 tuổi (Thấp nhất: 31 tuổi - Cao nhất: 52 tuổi). Phát hiện thể amiante trong dịch rửa phế quản phế nang: 3 ca/19 ca (15,79%). Tiền sử có tiếp xúc với amiante: 11 ca/19 ca (57,89%). Tình trạng hút thuốc lá: 6 ca/19 ca (31,58%). Kết quả điều trị: 6 ca khỏi bệnh hoàn toàn (không tái phát tiến triển theo dõi # 10 năm); 3 ca tái phát tại vị trí khác được xử trí: Hóa trị và làm dày dính màng phổi, sau đó theo dõi đến 31/12/2023 không bị tái phát lại. Có 10 ca tái phát tiến triển chuyển dạng thành u trung mạc ác tính dạng biểu mô, được xử trí: Hóa trị bộ đôi platinum và epotoside. Thời gian sống còn toàn bộ OS (10 ca bệnh tái phát tiến triển): 73,69 ± 8,52 tháng (Thấp nhất 17,3 tháng - Cao nhất 89,6 tháng). Kết luận: U trung mạc biệt hóa cao dạng nhú là loại bướu giáp biên ác của màng phổi, không xâm lấn vào mô đệm màng phổi hay mô phổi lân cận. Hiện nay được xếp vô nhóm u trung mạc lành tính và tiền xâm lấn. Cần chẩn đoán phân biệt với các loại u khác của màng phổi: U dạng tuyến, u trung mạc ác tính tại chỗ và u trung mạc ác tính dạnh biểu mô (khu trú & lan tỏa). Hiện nay, trong hoàn cảnh lâm sàng của bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, điều trị được lựa chọn vẫn là kết hợp bóc vỏ màng phổi và hóa trị bộ đôi platinum - epotoside.
- Lymphôm hodgkin với phản ứng u hạt : một nhầm lẫn trong chẩn đoán từ tế bào học đến giải phẫu bệnh
- Giá trị của sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán bướu tuyến nước bọt
- Giá trị của xét nghiệm Xpert MTB/RIF chẩn đoán lao phổi trong mẫu dịch rửa phế quản phế nang tại bệnh viện Đa khoa Đồng Nai
- Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nấm móng tay do candida tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 12/2024 đến tháng 5/2025
- Kết quả sinh thiết thận qua da dưới hướng dẫn siêu âm tại Trung tâm Nhi khoa Bệnh viện Bạch Mai





