CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Động kinh
1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng động kinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Thái Bình / Lê Văn Giang, Đỗ Mạnh Dũng, Phạm Thị Hương, Trần Văn Học, Đỗ Thanh Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- .- 610
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của trẻ mắc động kinh tại Bệnh viện Nhi Thái Bình. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 138 trẻ mắc động kinh thông qua phỏng vấn trực tiếp, thu thập thông tin từ sổ khám bệnh, bệnh án nghiên cứu kết hợp quan sát lâm sàng và xem video cơn co giật của trẻ. Kết quả: Động kinh gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái (với tỷ lệ 56,5% và 43,5%). Động kinh khởi phát toàn thể gặp nhiều hơn với 73,2%; 18,8% cơn động kinh khởi phát cục bộ và 8,0% không rõ khởi phát. Thời gian trung bình cơn ≤ 5 phút chiếm 97,8% và xuất hiện lúc thức với 89,9%. Hình ảnh điện não đồ của 87,7% bệnh nhân có bất thường ngoài cơn; 18,3% có hình ảnh tổn thương trên phim cắt lớp vi tính và 17,2% có hình ảnh tổn thương trên cộng hưởng từ sọ não. Kết luận: Cơn lâm sàng và tổn thương trên hình ảnh học sọ não đa dạng do đó cần chẩn đoán và phân loại cơn chính xác để nâng cao tỷ lệ kiểm soát cơn, cải thiện hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng sống của bệnh nhi.
2 Đặc điểm lâm sàng, điện não đồ và kiểu gen của bệnh động kinh ở trẻ dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 / Nguyễn Phạm Hoàng Long, Trần Thị Kim Vân, Nguyễn Thụy Minh Thư, Nguyễn Lê Trung Hiếu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 69 - 73 .- 610.0012
Động kinh ở trẻ dưới 6 tuổi có nhiều hội chứng điện-lâm sàng đặc trưng và liên quan mật thiết đến các đột biến gen. Tại Việt Nam, việc phân tích gen trong chẩn đoán động kinh đang ngày càng phổ biến. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, điện não đồ và kiểu gen ở trẻ dưới 6 tuổi mắc động kinh điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 2. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca trên 130 bệnh nhi từ 01/2021–10/2023. Tất cả đều được xét nghiệm di truyền bằng giải trình tự gen thế hệ mới trên bộ 220 hoặc 4503 gen. Kết quả: Phát hiện 53/130 (40,8%) trẻ có động kinh do đột biến gen, chủ yếu là SCN1A (32,1%) và PRRT2 (11,3%). Kiểu cơn động kinh phổ biến là co cứng-co giật toàn thể. Đa số trẻ khởi phát bệnh trong năm đầu đời (84,3%) và có biểu hiện phát triển bất thường. Hoạt động điện não bất thường ghi nhận ở 78,7%. Một số biến thể chưa từng được báo cáo trên cơ sở dữ liệu Clinvar. Kết luận: Giải trình tự gen thế hệ mới cho hiệu quả chẩn đoán di truyền cao trong nhóm trẻ động kinh dưới 6 tuổi. Phát hiện gen gây bệnh góp phần định hướng chẩn đoán hội chứng, điều trị và tiên lượng.
3 Đánh giá hiệu quả và an toàn của valproate truyền tĩnh mạch trong trạng thái động kinh co cứng - co giật tại Bệnh viện Nhân Dân 115 / Trần Thanh Hùng, Nguyễn Thanh Nhi // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 235 - 239 .- 610
Xây dựng quy trình điều trị valproate truyền tĩnh mạch trong trạng thái động kinh co cứng – co giật và đánh giá tính khả thi, hiệu quả và an toàn của valproate truyền tĩnh mạch sau khi triển khai quy trình. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu loạt ca trên 5 bệnh nhân được chuẩn đoán trạng thái động kinh co cứng – co giật theo tiêu chuẩn của Liên đoàn Chống Động kinh Quốc tế (International League Against Epilepsy – ILAE)5, không đáp ứng điều trị bước 1 với benzodiazepine tĩnh mạch chậm, và điều trị bước 2 với valproate truyền tĩnh mạch tại khoa Nội Thần kinh Tổng quát, Bệnh viện Nhân Dân 115 từ 03/3025 đến tháng 07/2025. Kết quả: Quy trình điều trị valproate tĩnh mạch trong trạng thái động kinh (TTĐK) co cứng–co giật được xây dựng với các bước: Đánh giá chỉ định và chống chỉ định, xác định liểu tải, pha thuốc, theo dõi trong khi truyền và theo dõi sau truyền. Quy trình được áp dụng cho 5 bệnh nhân (BN) TTĐK co cứng- co giật không đáp ứng điều trị bước 1 với midazolam tĩnh mạch chậm. Kết quả, 2/5 bệnh nhân cắt cơn hoàn toàn sau liều tải, 3/5 bệnh nhân chuyển sang bước 3 với midazolam truyền tĩnh mạch. Không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng. Kết luận và kiến nghị: Quy trình điều trị valproate tĩnh mạch trong TTĐK co cứng–co giật cho thấy tính khả thi, hiệu quả và an toàn góp phần rút ngắn thời gian kiểm soát cơn. Với ưu thế sẵn có tại Việt Nam, valproate truyền tĩnh mạch nên được ưu tiên cân nhắc như lựa chọn điều trị bước hai cho bệnh nhân TTĐK co cứng– co giật không đáp ứng điều trị bước 1 với benzodiazepine tĩnh mạch chậm.
4 Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ động kinh khởi phát trước 6 tháng tuổi điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương / Nguyễn Thị Ngân, Nguyễn Thị Thúy Hồng, Lê Đức Dũng, Lưu Thị Mỹ Thục // .- 2025 .- Tập 187 - Số 2 .- Tr. 265-272 .- 613
Mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số các yếu tố liên quan của trẻ bị động kinh khởi phát trước 6 tháng tuổi. Nghiên cứu mô tả cắt ngang 105 trẻ được chẩn đoán động kinh khởi phát trước 6 tháng tuổi, đang quản lý và điều trị tại Trung tâm Thần kinh, Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ 06/2023 đến 06/2024.
5 Kết quả điều trị phẫu thuật động kinh do loạn sản vỏ não khu trú ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương / Đỗ Thanh Hương, Cao Vũ Hùng, Lê Nam Thắng, Đặng Anh Tuấn, Mai Văn Hưng // .- 2023 .- Tập 169 - Số 8 - Tháng 9 .- Tr. 114-122 .- 610
Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh nhằm nhận xét kết quả điều trị phẫu thuật động kinh ở trẻ bị loạn sản vỏ não khu trú (FCD-focal cortical dysplasia) tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Nghiên cứu gồm 32 bệnh nhân đã được phẫu thuật động kinh tại Bệnh viện Nhi trung ương và được xác định là FCD bằng kết quả giải phẫu bệnh từ tháng 01/2016 đến 06/2023.
6 Đột biến gen KCNT1 gây bệnh não động kinh và chậm phát triển ở một bệnh nhi người Việt Nam / Vũ Bảo Quốc, Nguyễn Thị Mỹ Yến, Nguyễn Thụy Minh Thư, Nguyễn Lê Trung Hiếu, Bùi Chí Bảo // .- 2023 .- Tập 168 - Số 7 - Tháng 8 .- Tr. 1-8 .- 610
Khảo sát này sử dụng phương pháp giải trình tự toàn bộ exome cho một bệnh nhân nữ người Việt Nam bị nghi ngờ mắc bệnh não động kinh và chậm phát triển tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Qua sàng lọc dữ liệu, một đột biến sai nghĩa trên vị trí bảo tồn của gen KCNT1 là p.Ala934Thr được phát hiên.
7 Yếu tố liên quan tới chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của trẻ bị động kinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương / Nguyễn Thị Thanh Mai, Phạm Thị Bình, Đào Thị Nguyệt // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2022 .- Số 1(Tập 149) .- Tr. 222-228 .- 610
Nhằm khảo sát mức độ và những yếu tố liên quan tới chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của trẻ bị động kinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn phu huynh và xem xét hồ sơ y tế. Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe tổng quát được đánh giá bằng Pediatric Quality of Life Inventory TM 4.0 Generic Core Scale phiên bản tiếng Việt. Các yếu tố liên quan làm giảm chất lượng cuộc sống của trẻ bị động kinh bao gồm tình trạng học tập hiện tại, tuổi khởi phát, thời gian bị bệnh, số thuốc chống động kinh, tần suất điều trị nội trú, thời gian nằm viện, đáp ứng điều trị, học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ. Nhận thức được điều này sẽ hãu ích cho các nhà chuyên khoa trong việc điều trị bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống của trẻ bị động kinh.
8 Chế độ ăn sinh ceton trong điều trị động kinh kháng trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 / Nguyễn Thị Thu Hậu, Nguyễn Thụy Minh Thư, Nguyễn Hoàng Nhựt Hoa, Lê Thị Kha Nguyên // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 10(Tập 146) .- Tr. 20-28 .- 610
Nghiên cứu trình bày chế độ ăn sinh ceton trong điều trị động kinh kháng trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Động kinh thường được điều trị bằng thuốc nhưng khoảng 30% bệnh nhân động kinh kháng thuốc, trở thành gánh nặng kinh tế lớn. Các phương pháp điều trị động kinh kháng thuốc gồm phẫu thuật động kinh, kich thích dây thần kinh phế vị và chế độ ăn sinh ceton (ketogenic diet – KD). KD là chế độ ăn chủ lực là chất béo, đủ protein, ít tinh bột. Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ ăn sinh ceton có hiệu quả trên một số hội chứng động kinh, đặc biệt là các hội chứng động kinh thuốc ở trẻ em.
9 Động kinh ở trẻ sốt co giật: Chẩn đoán hội chứng động kinh / Bùi Hiếu Anh, Lê Thị Khánh Vân, Nguyễn Lê Trung Hiếu // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2019 .- Số 4 .- Tr. 28 - 37 .- 610
Những nghiên cứu trước đây về động kinh ở trẻ sốt co giật không chẩn đoán các hội chứng động kinh có thể do cỡ mẫu nhỏ và thiếu tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể. Bài viết mô tả và so sánh các đặc điểm lâm sàng của các hội chứng động kinh ở trẻ sốt co giật.





