CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Thần kinh

  • Duyệt theo:
1 Khảo sát phổ biến thể gen gây bệnh ở nhóm người bệnh chậm phát triển tâm thần nặng bằng giải trình tự hệ gen mã hóa / Hoàng Thu Lan, Hồ Cẩm Tú, Đào Thị Trang, Nguyễn Phương Mai, Nguyễn Thị Khánh Vân, Lê Thị Hạnh, Lương Thị Lan Anh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 44-55 .- 610

Khảo sát phổ biến thể gen và mô tả đặc điểm lâm sàng ở nhóm người bệnh có CPTTT nặng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 18 người bệnh CPTTT bằng giải trình tự hệ gen mã hóa (Exome Sequencing - ES/WES) tại trung tâm di truyền lâm sàng - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả, phát hiện được 3 trường hợp mang biến thể gen MECP2 (16,7%), 15 trường hợp còn lại phát hiện các biến thể rải rác ở các gen khác nhau chiếm 83,3%. Nhóm MECP2 có tỷ lệ động kinh cao hơn nhóm mang biến thể các gen khác (66,7% so với 26,7), tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê do số lượng mẫu còn nhỏ (p = 0,245). Về tuổi khởi phát, thoái triển thần kinh và biểu hiện tự kỷ sự khác biệt cũng chưa có ý nghĩa thống kê. Như vậy, ngoài biến thể gen MECP2 được phát hiện với tỷ lệ cao nhất, cũng phát hiện đc 15 biến thể nằm rải rác ở các gen khác nhau, cho thấy xét nghiệm ES là phương pháp có hiệu quả cao trong chẩn đoán nguyên nhân di truyền cho nhóm người bệnh CPTTT nặng.

2 Một số đặc điểm kích thước và các yếu tố liên quan của động mạch nền trên hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Nguyễn Thị Thu Huyền, Lê Mạnh Thường, Nguyễn Đức Nghĩa, Ngô Xuân Khoa, Lê Thanh Dũng, Trần Quang Lộc, Ngô Thành Ý // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 78-85 .- 610

Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát đặc điểm về kích thước và các yếu tố liên quan của động mạch nền trên 173 phim chụp cắt lớp vi tính sọ não tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Kết quả cho thấy chiều dài trung bình của động mạch nền là 24,19 ± 4,02 mm; đường kính trung bình tại các vị trí nguyên ủy, đoạn giữa, và tận cùng lần lượt là 3,5 ± 0,55 mm, 3,23 ± 0,49 mm, và 3,66 ± 0,64 mm và đường kính trung bình chung là 3,46 ± 0,51 mm. Các kích thước động mạch nền của nam giới lớn hơn đáng kể so với nữ giới (p < 0,05). Không ghi nhận mối liên quan giữa tuổi và chiều dài động mạch nền. Ở nữ giới, đường kính nguyên ủy ở nhóm tuổi già cao hơn đáng kể nhóm tuổi trung niên (p = 0,040). Ở nam giới, đường kính đoạn giữa ở nhóm tuổi già cao hơn nhóm tuổi trung niên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,017). Kết quả cho thấy kích thước động mạch nền có sự khác biệt theo giới tính, trong khi sự khác biệt theo nhóm tuổi chỉ được ghi nhận ở một số vị trí đường kính động mạch khi phân tích riêng theo từng giới.

3 Bước đầu khảo sát đặc điểm biến thể xoang tĩnh mạch sọ não trên MRI ở bệnh nhân đau đầu mạn tính / Nguyễn Hồng Phúc, Phạm Hồng Đức // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 1-9 .- 610

Nghiên cứu nhằm bước đầu mô tả đặc điểm lâm sàng, các bất thường phát hiện trên MRI sọ não và kiểu phân bố các biến thể xoang tĩnh mạch sọ não trên cộng hưởng từ (MRI) và cộng hưởng từ tĩnh mạch (MR venography, MRV) ở bệnh nhân đau đầu mạn tính được chỉ định chụp có tiêm thuốc đối quang từ vì mục đích chẩn đoán lâm sàng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 37 bệnh nhân ≥ 18 tuổi tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng từ 01/2025 đến 01/2026.

4 Kết quả 5 năm điều trị u tế bào mầm nội sọ biểu hiện 2 vị trí trên yên và tuyến tùng tại Bệnh viện K giai đoạn 2020 - 2024 / Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Thị Thu Nhung // .- 2025 .- Tập 203 - Số 6 .- .- 610

U tế bào mầm nội sọ biểu hiện 2 vị trí (bifocal) là nhóm bệnh hiếm gặp với khối u biểu hiện đồng thời ở vùng tuyến tùng và trên yên. Nghiên cứu hồi cứu trên 15 BN “bifocal” được điều trị hóa chất cảm ứng theo sau là xạ trị dựa trên phân tầng nguy cơ tại Bệnh viện K giai đoạn 2020 – 2024. Về mô bệnh học, 60% là germinoma và 40% là non-germinoma. Các BN đều là nam giới, tuổi trung bình 17 ± 5,8. Tại thời điểm chẩn đoán, 53,3% BN có đái tháo nhạt và 53,3% có tổn thương di căn.

5 Kết quả điều trị tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương bằng kỹ thuật vi phẫu / Nguyễn Hồng Hà, Bùi Đức Tín, Trần Xuân Thạch, Trần Thị Thanh Huyền // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 175 - 180 .- 610

Tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay là một dạng tổn thương thần kinh ngoại biên thường gặp, đặc biệt do chấn thương. Nếu không được điều trị đúng cách nó có thể gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và lao động của người bệnh. Bài báo này nhằm mục đích đánh giá kết quả điều trị tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương bằng kỹ thuật vi phẫu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên các bệnh nhân có tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương, được điều trị từ 01/2020 đến 07/2025. Theo dõi các biến số tuổi, giới, nguyên nhân, phương pháp phẫu thuật, kết quả sau mổ. Sử dụng thang điểm BMRC để đánh giá hồi phục chức năng. Kết quả: Trong 60 bệnh nhân được nghiên cứu thời gian theo dõi tối thiểu là 6 tháng sau phẫu thuật và bệnh nhân theo dõi lâu nhất là 65 tháng. Tổn thương chủ yếu gặp ở nam giới (80%) trong độ tuổi lao động (18–60 tuổi: 80%), nguyên nhân phổ biến nhất là tai nạn giao thông (40%). Thời gian can thiệp trước 3 tháng mang lại kết quả tốt hơn. Tỷ lệ phục hồi vận động M3–M5 đạt 83,3%, cảm giác mức S3–S4 đạt 85%. Kết luận: Điều trị sớm và đúng kỹ thuật, đặc biệt là áp dụng kỹ thuật vi phẫu trong điều trị cho thấy sự hồi phục đáng kể cả về chức năng vận động và cảm giác ở những bệnh nhân tổn thương thần kinh quay.

6 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u lympho nguyên phát thần kinh trung ương được xạ trị toàn não tại Bệnh viện K / Nguyễn Văn Đăng, Trần Vũ Hoàng Quân // .- 2025 .- Tập 188 - Số 3 .- Tr. 153-161 .- 610

U lympho nguyên phát thần kinh trung ương là một thể bệnh u lympho không Hodgkin, biểu hiện ở não, màng não mềm, tuỷ sống và mắt mà không có biểu hiện hệ thống. Bệnh hiếm gặp với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tiên lượng khác biệt so với các khối u não khác. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 21 bệnh nhân u lympho nguyên phát thần kinh trung ương được xạ trị toàn não tại Bệnh viện K từ tháng 6/2019 đến tháng 9/2024 nhằm nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của thể bệnh này. Nghiên cứu ghi nhận tuổi trung bình của bệnh nhân khi được chẩn đoán là 59,9 tuổi.

7 Kết quả xạ trị toàn não u lympho nguyên phát thần kinh trung ương tại Bệnh viện K / Nguyễn Văn Đăng, Trần Vũ Hoàng Quân // .- 2025 .- Tập 188 - Số 3 .- Tr. 162-171 .- 610

U lympho nguyên phát thần kinh trung ương là một thể bệnh u lympho không Hodgkin, biểu hiện ở não, màng não mềm, tuỷ sống và mắt mà không có biểu hiện hệ thống. Methotrexate liều cao là nền tảng của điều trị u lympho nguyên phát thần kinh trung ương, do khả năng đi qua hàng rào máu não, mang lại tỉ lệ đáp ứng cao. Xạ trị toàn não có vai trò củng cố sau Methotrexate liều cao hoặc điều trị vớt vát ở những bệnh nhân không thể dung nạp với liệu pháp toàn thân và khi bệnh tiến triển, tái phát. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 21 bệnh nhân u lympho nguyên phát thần kinh trung ương được xạ trị toàn não tại Bệnh viện K từ tháng 6/2019 đến tháng 9/2024 nhằm đánh giá kết quả điều trị của nhóm bệnh nhân này. Trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển của nhóm xạ trị vớt vát và nhóm xạ trị củng cố lần lượt là 13,9 tháng và 14,6 tháng.

8 Báo cáo ca lâm sàng ít gặp: Giảm áp lực nội sọ do rò dịch não tủy tại cổ cao / Hoàng Tú Minh, Lê Văn Thuỷ, Vương Thu Hà, Nguyễn Quang Trung, Lê Tuấn Linh // .- 2024 .- Tập 185 - Số 12 - Tháng 12 .- Tr. 386-392 .- 610

Báo cáo một trường hợp giảm áp lực nội sọ (GALNS) hiếm gặp, bệnh nhân (BN) nữ 30 tuổi vào viện vì đau đầu theo tư thế kéo dài 2 tuần, tiền sử sinh con đường âm đạo có sử dụng giảm đau bằng gây tê ngoài màng cứng vùng thắt lưng trước đó 1 tháng. Trên phim MRI sọ não có hình ảnh điển hình của GALNS gồm dày và ngấm thuốc lan tỏa màng cứng, phồng xoang tĩnh mạch, phì đại tuyến yên và tụt thấp trung não.

9 Đánh giá tác dụng của phương pháp Hỏa long cứu kết hợp điện châm, xoa bóp bấm huyệt điều trị đau đầu thần kinh tọa / Trần Thị Phong Lan, Vũ Nam, Hán Huy Truyền // .- 2023 .- Số 78 .- .- 615.882

Đánh giá tác dụng của phương pháp hỏa long cứu kết hợp điện châm, xoa bóp bấm huyệt điều trị đau thần kinh tọa. Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp can thiệp. Tiến cứu, can thiệp lâm sàng, so sánh trước và sau điều trị và so sánh với nhóm chứng; 80 người bệnh đủ tiêu chuẩn chia đều ngẫu nhiên vào 2 nhóm.

10 Báo cáo ca lâm sàng tổn thương não cấp sau chụp động mạch vành qua da / Hoàng Văn // .- 2024 .- Tập 178 - Số 05 - Tháng 6 .- .- 610

Trong bài cáo cáo ca lâm sàng này, chúng tôi mô tả một trường hợp có biến chứng thần kinh ngay sau thủ thuật chụp động mạch vành qua da. Do chưa đủ bằng chứng rõ ràng, chúng tôi không thể đưa ra chẩn đoán xác định nguyên nhân của biến chứng thần kinh trong trường hợp này.