CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Lâm sàng
101 Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn tại Việt Nam giai đoạn 2020 – 2024: Một tổng quan tường thuật / Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Thành Dũng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 200 - 204 .- 610
Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn tại Việt Nam được báo cáo rất khác nhau trong những năm qua, phản ánh sự không đồng nhất trong năng lực chăm sóc và điều trị giữa các cơ sở y tế. Mục tiêu: Tổng hợp các dữ liệu hiện có về tỷ lệ tử vong do sốc nhiễm khuẩn tại Việt Nam giai đoạn 2020–2024, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan và định hướng cho các chiến lược cải thiện. Đối tượng và phương pháp: Bài viết là một tổng quan tường thuật, lựa chọn các nghiên cứu được công bố trên các tạp chí y khoa có bình duyệt trong giai đoạn 2020– 2024, tập trung vào báo cáo tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn tại Việt Nam. Kết quả: Tỷ lệ tử vong được báo cáo dao động trong khoảng 40– 70%, có sự khác biệt giữa các tuyến bệnh viện. Một số nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tử vong thấp hơn tại các bệnh viện hạng đặc biệt so với bệnh viện tuyến dưới, tuy nhiên chưa ghi nhận sự khác biệt rõ ràng theo khu vực địa lý. Kết luận: Tỷ lệ tử vong do sốc nhiễm khuẩn tại Việt Nam vẫn ở mức cao. Cần tăng cường phối hợp giữa các nhà nghiên cứu, cơ sở điều trị và cơ quan quản lý y tế để cải thiện chất lượng chăm sóc và kết cục của bệnh nhân.
102 Khảo sát tình hình tăng huyết áp khó kiểm soát và tăng huyết áp kháng trị tại Bệnh viện trường Đại học Y Dược Cần Thơ / Trần Kim Sơn, Nguyễn Quan Đức Minh // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 208 - 212 .- 610
Xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp khó kiểm soát và tăng huyết áp kháng trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 247 bệnh nhân tăng huyết áp đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Kết quả: Nghiên cứu trên 247 bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ cho thấy tuổi trung bình 62,3 ± 12,7, đa số là nữ (60,7%) và có tỷ lệ cao bệnh đồng mắc như đái tháo đường (41,3%) và rối loạn lipid máu (60,7%). Tỷ lệ tăng huyết áp khó kiểm soát là 55%, trong khi tăng huyết áp kháng trị chiếm 9,3% tổng số mẫu và 16,9% trong nhóm khó kiểm soát. Trong nhóm khó kiểm soát, đa số bệnh nhân sử dụng 2–3 thuốc hạ áp nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu, và khoảng 20% chỉ điều trị đơn trị liệu. Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tăng huyết áp khó kiểm soát/kháng trị với các bệnh đồng mắc (p > 0,05). Kết luận: Tỷ lệ tăng huyết áp khó kiểm soát tại bệnh viện tuyến cuối còn cao, trong khi tăng huyết áp kháng trị chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng vẫn là nhóm nguy cơ cao. Việc chưa tối ưu hóa phác đồ điều trị và kiểm soát đồng thời các yếu tố nguy cơ tim mạch có thể góp phần làm giảm hiệu quả kiểm soát huyết áp. Cần tăng cường chiến lược điều trị đa thuốc, cải thiện tuân thủ, và thực hiện các nghiên cứu quy mô lớn hơn để xác định rõ các yếu tố nguy cơ liên quan.
103 Đặc điểm lâm sàng, Xquang của bệnh nhân cấy ghép implant có thiết kế rãnh xoắn nhỏ vùng cổ tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội năm 2023 - 2024 / Đàm Văn Việt, Nguyễn Thành Lâm, Trịnh Hải Anh, Trần Thị Mỹ Hạnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 212 - 216 .- 610
Mô tả đặc điểm lâm sàng, Xquang của bệnh nhân cấy ghép implant có thiết kế rãnh xoắn nhỏ vùng cổ tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội năm 2023 - 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh được thực hiện ở 26 bệnh nhân trên 18 tuổi mất răng từng phần với 34 vị trí cấy ghép trụ implant ETK (Pháp) tại Khoa Cấy ghép Implant, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội. Các đặc điểm lâm sàng, Xquang bao gồm giới tính, tuổi, vị trí răng mất, nguyên nhân và thời gian mất răng; chiều rộng và chiều dài xương có ích; mật độ xương; chiều dày niêm mạc sừng hóa. Kết quả: Tổng đối tượng tham gia nghiên cứu là 26 bệnh nhân, trong đó nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn (53,8%). Tuổi trung bình là 45,6±9,6 (28 - 66), độ tuổi từ 35 - 50 tuổi (57,1%) chiếm phần lớn. Nghiên cứu trên 34 vị trí mất răng có chỉ định cấy ghép trụ implant ETK có kết quả: Nguyên nhân mất răng chủ yếu do sâu răng/bệnh lý tủy (97,1%), viêm quanh răng chỉ chiếm 2,9%, không có trường hợp nào mất răng do chấn thương hay bẩm sinh. Thời gian mất răng 6-12 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (41,2%). Chiều rộng xương có ích đều >6mm, trong đó 6-9mm chiếm tỉ lệ cao nhất 61,8%. Chiều cao xương có ích 12-14mm chiếm tỷ lệ cao nhất (38,2%), tiếp theo là > 14mm (35,3%). Mật độ xương chủ yếu là xương D2 (61,8%); tiếp theo là xương D3 (38,2%) với hàm trên chủ yếu là D3 (88,9%), hàm dưới chủ yếu là D2 (80%). Chiều dày niêm mạc sừng hoá đa phần ≥ 2mm (94,1%). Kết luận: Các đặc điểm về lâm sàng và X-quang vùng mất răng của nhóm đối tượng nghiên cứu thuận lợi cho việc cấy ghép trụ implant ETK có thiết kế rãnh xoẵn nhỏ vùng cổ, thể hiện qua kích thước xương đầy đủ (chiều rộng >6 mm, chiều cao >10 mm) và chất lượng xương tốt (chủ yếu loại D2 và D3), chiều dày niêm mạc sừng hoá ≥ 2mm ở hầu hết các trường hợp. X-quang là công cụ quan trọng trong cấy ghép implant.
104 Đánh giá tiên lượng tử vong bằng thang điểm SNAP-II tại khoa Hồi sức Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 / Huỳnh Hoàng Duy, Phạm Thị Thanh Tâm, Nguyễn Đức Toàn // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 221 - 225 .- 610
Xác định tỷ lệ phần trăm các yếu tố liên quan đến tử vong và giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm SNAP-II ở trẻ sơ sinh tại Khoa Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp: cắt ngang từ 01/01/2025 đến 30/06/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Đánh giá thang điểm SNAP-II ở thời điểm T0 (lúc nhập khoa) và T24 (giờ 24 sau nhập khoa). Kết quả: Có 182 trường hợp trẻ sơ sinh được đánh giá trong thời gian nghiên cứu. Tuổi thai có trung vị 36,6 tuần (34,0 – 38,0 tuần), cân nặng lúc sinh có trung vị 2455g (1800 – 3000g), tỷ lệ trẻ sơ sinh cực non là 3,9%. Các chẩn đoán thường gặp bao gồm non tháng (50,0%), nhiễm khuẩn huyết (39,0%), tim bẩm sinh (29,1%), viêm phổi (23,0%). Các điều trị chính bao gồm dùng thuốc kháng sinh (98,9%), thở máy (84,1%), thở NCPAP (48,4%), dùng thuốc vận mạch (29,7%). Tỷ lệ tử vong là 11,0%. Điểm số thang điểm SNAP-II ở thời điểm T0 là 15 (8 – 22). Giá trị các yếu tố liên quan tử vong của dân số chung trong thang điểm SNAP-II được ghi nhận theo tỷ lệ bệnh nhi có chỉ số bất thường ở thời điểm T0 là: lượng nước tiểu (63,2%), thân nhiệt (52,7%), tỷ lệ PO₂/FiO₂ (49,5%), pH máu thấp nhất (13,7%), huyết áp trung bình (2,7%) và co giật nhiều lần (1,0%). Điểm số thang điểm SNAP-II ở thời điểm T24 là 5 (0 – 7). Giá trị các yếu tố liên quan tử vong của dân số chung trong thang điểm SNAP-II được ghi nhận theo tỷ lệ bệnh nhi có chỉ số bất thường ở thời điểm T24 là: tỷ lệ PO₂/FiO₂ (43,4%), pH máu thấp nhất (18,7%), lượng nước tiểu (15,9%), huyết áp trung bình (3,3%), thân nhiệt (1,5%) và co giật nhiều lần (0,5%). Kết luận: Tỷ lệ tử vong là 11,0%. Điểm số thang điểm SNAP-II ở thời điểm T0 là 15 (8 – 22) và T24 là 5 (0 – 7). Giá trị các yếu tố liên quan tử vong của dân số chung trong thang điểm SNAP-II được ghi nhận theo tỷ lệ bệnh nhi có chỉ số bất thường ở thời điểm T0 là lượng nước tiểu (63,2%), thân nhiệt (52,7%) và T24 là tỷ lệ PO₂/FiO₂ (43,4%), pH máu thấp nhất (18,7%).
105 Khảo sát dao động đường huyết bằng thiết bị CGM ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn / Đỗ Đình Tùng, Lương Tuấn Kiên, Nguyễn Thị Thúy Nga, Dương Thị Mỹ Hảo, Lê Thị Mỹ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 260 - 265 .- 610
Khảo sát sự dao động đường huyết bằng máy CGM nhằm cung cấp dữ liệu toàn diện giúp cá thể hóa điều trị. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. Tất cả bệnh nhân được theo dõi glucose máu liên tục trong 14 ngày bằng thiết bị Freestyle Libre. Các chỉ số CGM ghi nhận bao gồm: AG, GMI, GV, TIR, TAR, TBR. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 71,25 ± 10,05; 83,3% có ≥1 bệnh mạn tính đi kèm. Chỉ 30% bệnh nhân đạt mục tiêu AG và GMI, và 10% đạt đồng thời cả ba tiêu chí GMI, GV và TIR. TIR trung bình là 53,33 ± 20,46%, với 23,3% đạt mục tiêu chung. Trong nhóm ≥65 tuổi, 85% đạt TIR > 50%. TAR và TBR lần lượt là 40,82% và 1,53%. Kết luận: Phần lớn bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát glucose theo chỉ số CGM. CGM là công cụ hữu ích trong quản lý ĐTĐ típ 2, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân cao tuổi và đa bệnh lý.
106 Đánh giá thực trạng sức khoẻ của người bệnh trước và sau ghép thận / Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Thu Thuỷ, Trần Hữu Tài, Nguyễn Minh Thu, Nguyễn Thị Minh Hạnh, Lê Thị Nhung, Nguyễn Thu Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 247 - 250 .- 610
Đánh giá chất lượng sức khỏe thể chất của người bệnh trước và sau ghép thận tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang so sánh trước và sau ghép được thực hiện từ tháng 03/2021 đến tháng 06/2024. Các chỉ số lâm sàng và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được đánh giá trước và sau ghép thận thông qua bảng câu hỏi SF-36. Số liệu thu thập bao gồm, cân nặng, chiều cao, công thức máu toàn phần, nồng độ ure và creatinin huyết thanh. Phép kiểm định t ghép cặp (paired t-test) được sử dụng để so sánh điểm trung bình trước và sau ghép. Kết quả: Trong số 63 bệnh nhân ghép thận, BMI tăng nhẹ từ 20,9 ± 2,9 lên 21,6 ± 2,9; p = 0,013). Số lượng hồng cầu và hemoglobin đều tăng rõ rệt (cả hai p < 0,001). Nồng độ ure huyết giảm từ 22,3 ± 9,1 xuống 6,3 ± 1,8 mmol/L và creatinin huyết thanh giảm từ 861 ± 296,1 xuống 105,8 ± 66,8 μmol/L (cả hai p < 0,001). Điểm SF-36 sau ghép có sự cải thiện đáng kể: GH, PF, RF và PCS đều tăng (p < 0,001), trong khi điểm BP giảm từ 35,4 ± 23,7 xuống 16,7 ± 17,9 (p < 0,001), cho thấy hạn chế chức năng giảm nhưng mức độ đau tăng sau phẫu thuật. Kết luận: Ghép thận không chỉ phục hồi chức năng thận mà còn cải thiện rõ rệt chất lượng sức khoẻ thể chất, mặc dù bệnh nhân gặp các vấn đề đau nhiều hơn.
107 Đánh giá tình trạng giãn thoáng qua của cơ thắt thực quản dưới ở bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản / Trịnh Văn Cương, Đào Việt Hằng // .- 2025 .- .- 610
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu với 2 mục tiêu chính là khảo sát tỷ lệ và đặc điểm giãn thoáng qua của cơ thắt thực quản dưới (TLESR) ở bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản bằng đo áp lực nhu động và thực quản độ phân giải cao (HRM); và đánh giá mối liên quan giữa TLESR với đặc điểm lâm sàng và hình ảnh nội soi. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả trên 100 bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản được đo HRM từ tháng 03/2025 đến tháng 06/2025 tại Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa - Gan mật và phòng khám đa khoa Hoàng Long. Kết quả: Có 44/100 bệnh nhân có TLESR với tổng 74 sự kiện được ghi nhận, thời gian trung bình là 20,1 ± 5,4 giây. Tỷ lệ TLESR kèm trào ngược là 60,8%. Trong khi TLESR gặp nhiều hơn ở nữ, thì viêm thực quản trào ngược trên nội soi lại có nguy cơ cao hơn ở nam (OR=2,81, p<0,05). Nhóm bệnh nhân có TLESR có tỷ lệ ợ hợi, ợ chua cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân không có TLESR. Không có sự khác biệt về đặc điểm hình ảnh nội soi, các chỉ số trên đo HRM (áp lực LES, IRP 4s và rối loạn nhu động thực quản) giữa hai nhóm bệnh nhân trên.
108 Một số đặc điểm lâm sàng di chứng viêm não do virus ở bệnh nhi điều trị tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, năm 2022-2023 / Trần Thi Liên, Trần Văn Thanh, Pham Hồng Vân // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 222 - 226 .- 610
Mô tả một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhi di chứng viêm não do virus điều trị tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, tiến hành trên 140 bệnh nhi di chứng viêm não do virus điều trị tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2023. Kết quả: Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhi di chứng viêm não do virus chủ yếu ở mức độ vừa và nặng: chưa nhận biết được chiếm tỷ lệ 73,57%; nói ú ớ, có âm chưa có tiếng 71,43%; nuốt chậm, chỉ ăn được lỏng 68,57%; đại tiểu tiện lúc tự chủ lúc không 58,57%; tăng tiết đờm dãi 5,71%; rối loạn trương lực cơ nặng 73,57% và rối loại ngoại tháp nặng 67,86%. Điểm Liverpool trung bình 38,39 ± 5,29. Điểm Ashworth cải biên trung bình 3,15 ± 0,69. Điểm Henry trung bình 4,22 ± 0,66. Điểm chức năng vận động thô trung bình 4,16 ± 0,50. Kết luận: Bệnh nhi di chứng viêm não do virus điều trị tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương có biểu hiện lâm sàng phong phú, trong đó phổ biến nhất là các rối loạn ý thức, rối loạn trương lực cơ và rối loạn ngôn ngữ.
109 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, sự biến đổi tỉ lệ neutrophil/lymphocyte và mối liên quan với kết quả điều trị ở bệnh nhân đa chấn thương tại Bệnh viện Quân y 175 / Bùi Việt Hà, Nguyễn Trung Kiên, Nguyễn Trường Giang, Trần Quốc Việt, Vũ Minh Dương // .- 2025 .- Số 4 .- Tr. 66 - 71 .- 610
Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mối liên quan giữa sự biến đổi tỉ lệ neutrophil/lymphocyte (NLR) với kết quả điều trị ở bệnh nhân đa chấn thương điều trị tại Bệnh viện Quân y 175. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc trên 60 bệnh nhân đa chấn thương, được chẩn đoán theo tiêu chuẩn Berlin năm 2014 tại Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 6/2024 đến 5/2025. Các số liệu được thu thập tại các thời điểm T0 (nhập viện), T1 (giờ thứ 24 sau vào viện, T2 (giờ thứ 48 sau vào viện). Kết quả: Phần lớn bệnh nhân là nam giới (73,3%), 86,7% ở độ tuổi 20-60, nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông (81,7%). Tổn thương hay gặp là chấn thương ngực (80%) và chấn thương sọ não (61,7), có 40% bị tổn thương ở 2 hệ cơ quan. Thời gian thở máy và thời gian nằm viện có trung vị lần lượt là 4 ngày và 10 ngày. Tỷ lệ tử vong ở đối tượng nghiên cứu là 28,3%. Giá trị NLR tại thời điểm nhập viện của nhóm sống và nhóm tử vong lần lượt là 9,86 và 15,3. NLR thời điểm nhập viện có khả năng tiên lượng tử vong ở bệnh nhân đa chấn thương, diện tích dưới đường cong (AUC) = 0,774 với p < 0,05, điểm cut-off là 8,32 với độ nhạy Se = 100% và độ đặc hiệu Sp = 46%. Kết luận: Bệnh nhân đa chấn thương điều trị tại Bệnh viện Quân y 175 chủ yếu là nam giới, trong độ tuổi lao động, do tai nạn giao thông. Chấn thương ngực và chấn thương sọ não là 2 tổn thương thường gặp nhất. Giá trị NLR thời điểm nhập viện có ý nghĩa tiên lượng tử vong ở bệnh nhân đa chấn thương.
110 Lâm sàng rối loạn thần cấp đa dạng không có triệu chứng của tâm thần phân liệt / Dương Minh Tâm, Trần Nguyễn Ngọc // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2022 .- Số 5(Tập 153) .- Tr. 18-25 .- 610
Mô tả đặc điểm lâm sàng rối loạn thần cấp đa dạng không có triệu chứng của tâm thần phân liệt. Rối loạn thần cấp và nhất thời (F23) là một rối loạn tâm thần thường gặp trên lâm sàng. Sau khi nghiên cứu 43 người bệnh rối loạn thần cấp đa dạng không có triệu chứng của tâm thần phân liệt cho thấy nhóm tuổi thường gặp 25-34 (32,6%) và 35-44 (30,2%). Tuổi trung bình là 34,19 +- 10,1. Rối loạn này gặp nhiều ở nữ giới hơn nam giới (53,5% so với 46,5%). Có 36,2% người bệnh có kết hợp stress. Trong số đó, nội dung stress gặp nhiều nhất là về công việc (37,4%). Có tới 95,3% người bệnh có triệu chứng hoang tưởng và chủ yếu là hoang tưởng bị hại (90,2%), tiếp đó đến hoang tưởng bị theo dõi (60,9%). Có 65,1% người bệnh có ảo giác. Hầu hết người bệnh có áo giác thính giác (96,4%). Có 3 trường hợp có ảo giác thị giác. Ảo giác xúc giác, ảo giác vị giác và ảo giác khứu giác không thấy xuất hiện ở người bệnh rối loạn loạn thần cấp đa dạng không có triệu chứng của tâm thần phân liệt.