CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Đái tháo đường
1 Thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh đái tháo đường típ 2 / Nguyễn Văn Tuấn, Vũ Sơn Tùng, Đào Thị Thùy Trang // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 653-662 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 255 người bệnh đái tháo đường típ 2 đến khám và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7/ 2025 đến tháng 4/ 2026. Chúng tôi thực hiện với mục tiêu mô tả thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh đái tháo đường típ 2. Kết quả có 54,1% người bệnh đái tháo đường típ 2 có rối loạn giấc ngủ. Người bệnh có độ tuổi lớn lớn 60 chiếm tỉ lệ cao hơn là 62,3%. Thời gian ngủ trung bình mỗi đêm 3,9 ± 1,3. Có 63,8% người bệnh có số lần thức giấc trong đêm 1 - 2 lần/ đêm. 70,3% người bệnh có hiệu suất giấc ngủ rất kém (≤ 65%). Thể bệnh hay gặp nhất của rối loạn giấc ngủ là mất ngủ chiếm tỉ lệ 87,0%, hội chứng chân không yên chiếm 11,6% và rối loạn nhịp thức ngủ sinh học chiếm 1,4%. Chỉ số PSQI trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 8,7 ± 5,2%.
2 Hiệu quả của chương trình Vivifrail trên chức năng vận động và nguy cơ ngã ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có hội chứng dễ bị tổn thương / Dương Thị Kim Ngân, Nguyễn Huy Ngọc, Vũ Thị Thanh Huyền // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 720-729 .- 610
Nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có nhóm chứng trên 72 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 từ 60 tuổi trở lên có hội chứng dễ bị tổn thương (HCDBTT). Bệnh nhân được phân thành nhóm can thiệp (n = 36) tham gia chương trình Vivifrail và nhóm chứng (n = 36) được chăm sóc thông thường. Các chỉ số được đánh giá tại thời điểm ban đầu, sau 3 tháng và sau 6 tháng, bao gồm chức năng vận động (Timed Up and Go, TUG) và điểm nguy cơ ngã (Fall Risk Index-21, FRI-21). Có 66 bệnh nhân hoàn thành nghiên cứu sau 6 tháng theo dõi. Tại thời điểm ban đầu, không có sự khác biệt về đặc điểm nhân khẩu học, đái tháo đường, và lão khoa giữa hai nhóm (p > 0,05). Sau 6 tháng can thiệp, thời gian thực hiện TUG của nhóm can thiệp giảm trung bình 3,8 giây từ 15,6 ± 5,9 giây xuống 11,8 ± 2,9 giây, nhóm chứng tăng 1,1 giây từ 15,3 ± 5,5 giây lên 16,4 ± 6,4 giây. Điểm FRI-21 của nhóm can thiệp giảm trung bình 4,1 điểm từ 11,4 ± 3,3 điểm xuống 7,3 ± 3,0 điểm, nhóm chứng không có sự thay đổi. Mức thay đổi về thời gian TUG và điểm FRI-21 ở nhóm can thiệp tốt hơn so với nhóm chứng tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng (p < 0,05). Chương trình Vivifrail giúp cải thiện đáng kể chức năng vận động và giảm nguy cơ ngã ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có HCDBTT.
3 Tác động của chế độ ăn bổ sung dây thìa canh đến dung nạp glucose, lipid máu và tổn thương gan trên mô hình chuột đái tháo đường thực nghiệm / Nông Văn Diệp, Nguyễn Đức Quân, Đỗ Thị Trang, Trần Thị Hương Giang, Trần Huy Thịnh, Nguyễn Huy Hoàng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 751-759 .- 610
Nghiên cứu đánh giá tác động của bổ sung dây thìa canh (Gymnema sylvestre) lên dung nạp glucose, lipid máu và tổn thương gan trên mô hình chuột đái tháo đường. Tổng cộng 48 chuột đực Swiss được chia thành 4 nhóm: Nhóm 1 - đối chứng, Nhóm 2 - béo phì, Nhóm 3 - đái tháo đường, và Nhóm 4 - đái tháo đường có can thiệp bằng chế độ ăn. Kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose đường tiêm phúc mạc (IPGTT) cho thấy Nhóm 2 và 3 có rối loạn dung nạp glucose rõ rệt, đặc biệt Nhóm 3 có glucose máu tăng cao và giảm chậm. Nhóm 4 được bổ sung ăn dây thìa canh có mức tăng glucose thấp hơn và giảm nhanh hơn, cho thấy cải thiện dung nạp glucose. Đồng thời, các chỉ số cholesterol, triglycerid, ALT và AST ghi nhận giảm đáng kể so với Nhóm 2 và 3 phản ánh xu hướng cải thiện rối loạn lipid và giảm tổn thương gan (thoái hóa mỡ, viêm, rối loạn cấu trúc) đáng kể ở nhóm 4. Kết quả cho thấy dây thìa canh có tiềm năng hỗ trợ kiểm soát rối loạn chuyển hóa glucose, chuyển hoá lipid và giảm tổn thương gan trong đái tháo đường thực nghiệm.
4 Hàm lượng vitexin, isovitexin và hoạt tính ức chế α-glucosidase của cao chiết vỏ đậu xanh / Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Ngọc Linh, Vũ Thị Thoa, Lê Văn Long, Nguyễn Thị Nguyệt, Đỗ Thị Trang, Nguyễn Thị Quyên, Đào Thị Ngoãn // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 760-772 .- 610
Vỏ đậu xanh là phụ phẩm phát sinh với khối lượng lớn trong chế biến đậu xanh nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Nghiên cứu này nhằm định lượng vitexin và isovitexin trong cao chiết vỏ đậu xanh bằng HPLC-DAD, xác định hàm lượng polyphenol toàn phần, hàm lượng flavonoid toàn phần, đánh giá hoạt tính ức chế α-glucosidase in vitro và sử dụng docking phân tử để hỗ trợ gợi ý tương tác của các hợp chất chính với đích liên quan α-glucosidase. Vỏ đậu xanh được thu từ cơ sở chế biến tại Hưng Yên, đã được sấy khô theo quy trình chế biến tại cơ sở sản xuất trước khi bàn giao, sau đó mẫu được bảo quản kín ở ngăn mát tủ lạnh, nghiền nhỏ và chiết siêu âm bằng methanol hoặc ethanol 50%; Cao chiết ethanol 50% được ký hiệu VRE50. Kết quả cho thấy VRE50 có hiệu suất chiết 5,45%, chứa vitexin 12,38% và isovitexin 10,77% trong cao chiết, cao hơn về mặt định lượng so với cao methanol. VRE50 có hàm lượng polyphenol toàn phần 48,56 ± 1,46 mg GAE/g cao chiết và hàm lượng flavonoid toàn phần 145,66 ± 4,37 mg QE/g cao chiết. VRE50 ức chế α-glucosidase với IC50 = 148,36 ± 5,49 µg/mL, so với acarbose là 120,99 ± 8,31 µg/mL trong cùng điều kiện thử nghiệm. Docking trên protein 3TOP cho thấy vitexin và isovitexin có khả năng tương tác với vùng gắn kết của đích liên quan α-glucosidase; tuy nhiên, kết quả docking chỉ được sử dụng như bằng chứng hỗ trợ, không thay thế thử nghiệm enzym in vitro. Nghiên cứu cung cấp cơ sở ban đầu cho hướng khai thác phụ phẩm vỏ đậu xanh giàu vitexin và isovitexin có tiềm năng ức chế α-glucosidase trong điều kiện in vitro.
5 Tuân thủ sử dụng thuốc và các yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 2023 / Trương Khắc Quỳnh, Nguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Mỹ Lan, Đỗ Nguyên Vũ, Nguyễn Thị Mai // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 812-822 .- 610
Nghiên cứu cắt ngang nhằm đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc và các yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 2023. Tổng cộng 300 người bệnh được tuyển chọn từ tháng 5 đến tháng 11/2023, mức độ tuân thủ được đánh giá bằng thang MMAS-8. Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc đạt 69,3%. Các hành vi không tuân thủ phổ biến là cảm thấy phiền phức khi điều trị (39,3%) và đôi khi quên dùng thuốc (32,7%). Phân tích đơn biến ghi nhận không tuân thủ chế độ ăn, số thuốc đái tháo đường trong đơn, phác đồ phối hợp thuốc uống–insulin và lo sợ biến chứng có liên quan đến không tuân thủ sử dụng thuốc (p < 0,05). Trong mô hình hồi quy logistic đa biến, chỉ còn không tuân thủ chế độ ăn ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê sau hiệu chỉnh. Nhìn chung, tuân thủ điều trị còn chưa tối ưu; cần triển khai can thiệp đa thành phần, tăng cường tư vấn cá thể hóa và hỗ trợ duy trì các hành vi tự quản lý bệnh.
6 Đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm theo thang điểm PREVENT - ASCVD ở bệnh nhân gút có đồng mắc đái tháo đường / Dương Thị Hiền, Nguyễn Thị Phương Thủy // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 407-415 .- 610
Việc đánh giá nguy cơ tim mạch do xơ vữa động mạch theo thang điểm PREVENT-ASCVD ở nhóm bệnh nhân gút, đặc biệt khi đồng mắc đái tháo đường, có ý nghĩa quan trọng để tối ưu hóa chiến lược điều trị. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu quan sát mô tả cắt ngang trên 68 bệnh nhân được chẩn đoán gút theo tiêu chuẩn EULAR/ACR 2015 và chẩn đoán đái tháo đường theo tiêu chuẩn ADA 2023, điều trị tại Trung tâm Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2025 đến tháng 03/2026. Khi khảo sát nguy cơ tim mạch trong 10 năm theo thang điểm PREVENT-ASCVD, thấy 72,1% bệnh nhân có nguy cơ tim mạch trung bình và cao. Các yếu tố liên quan đến tăng nguy cơ tim mạch bao gồm: tuổi cao, tăng huyết áp, giảm mức lọc cầu thận (eGFR), tăng HbA1c, thời gian mắc đái tháo đường kéo dài và số cơn gút cấp tính trong năm.
7 Đặc điểm bước đầu đa hình rs13266634 gen SLC30A8 và mối liên quan với các chỉ số đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường / Đỗ Quang Hiệu, Lưu Ngọc Trân, Nguyễn Tiến Dũng, Phạm Gia Thế, Đoàn Thị Kim Châu // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 583-591 .- 610
Một số dữ liệu di truyền học trên các quần thể khác nhau cho thấy đa hình rs13266634 gen SLC30A8 có thể liên quan với nguy cơ mắc bệnh và đặc điểm kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường, tuy nhiên dữ liệu tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 90 bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh từ tháng 09/2025 đến tháng 01/2026. Kết quả cho thấy kiểu gen CT chiếm tỷ lệ cao nhất với 65,6%, tiếp theo là CC 26,7% và TT 7,8%; tần suất alen C và alen T lần lượt là 59,4% và 40,6%. Đường huyết lúc đói và HbA1c khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm kiểu gen (p < 0,05). Trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến hiệu chỉnh theo tuổi, BMI, hút thuốc lá, sử dụng insulin và số thuốc phối hợp, mỗi alen T bổ sung liên quan với tăng đường huyết lúc đói trung bình 23,86 mg/dL và tăng HbA1c trung bình 0,45%. Nghiên cứu bước đầu cho thấy đa hình rs13266634 gen SLC30A8 có thể liên quan với đường huyết lúc đói và HbA1c ở bệnh nhân đái tháo đường tại Việt Nam.
8 Tỉ lệ và một số yếu tố liên quan tiền đái đường ở bệnh nhân tăng huyết áp / Lâm Thị Chư Láng, Ngô Phúc Thảo, A Đam, Trần Kim Sơn // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 592-598 .- 610
Tiền đái tháo đường là tình trạng rối loạn dung nạp glucose, làm tăng nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường type 2 và bệnh tim mạch, đặc biệt ở bệnh nhân tăng huyết áp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 135 bệnh nhân tăng huyết áp đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ nhằm xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến tiền đái tháo đường. Thu thập thông tin qua phỏng vấn, đo các chỉ số nhân trắc học và xét nghiệm glucose máu lúc đói (FPG), HbA1c, bộ mỡ, siêu âm Doppler tim, protein niệu. Kết quả cho thấy tỉ lệ tiền đái tháo đường là 58,5%, liên quan đến BMI, vòng bụng, huyết áp và tiền sử gia đình đái tháo đường. Tỉ lệ này cao, cho thấy cần tăng cường tầm soát để can thiệp sớm và phòng ngừa biến chứng.
9 Đa hình rs854560 gen PON1 và kết cục nội viện ở người bệnh đái tháo đường típ 2 mắc đột quỵ thiếu máu não: Nghiên cứu bệnh-chứng / Phan Thị Bé, Ngô Văn Truyền, Cao Thị Tài Nguyên, Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Đình Quang // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 831-840 .- 610
Đa hình rs854560 gen PON1 có thể ảnh hưởng hoạt tính paraoxonase-1 và liên quan bệnh lý mạch máu qua cơ chế stress oxy hóa. Tuy nhiên vai trò của biến thể này trong đột quỵ thiếu máu não (ĐQTMN) ở người bệnh đái tháo đường típ 2 (ĐTĐ) vẫn chưa rõ. Nghiên cứu bệnh-chứng trên 118 người bệnh ĐTĐ típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai (09/2025 – 12/2025) gồm 58 người bệnh ĐQTMN và 60 người bệnh không đột quỵ. Ở nhóm ĐQTMN, tỷ lệ kiểu gen AA, AT, TT lần lượt 94,8%, 1,7%, 3,4%, tần số alen A 95,7%. Phân bố kiểu gen và alen không khác biệt giữa hai nhóm và không liên quan nguy cơ ĐQTMN. Trong nhóm ĐQTMN, tỷ lệ chuyển dạng xuất huyết và biến cố gộp cao hơn ở người bệnh mang AT/TT so với AA. Hồi quy logistic Firth đa biến cho thấy mỗi alen T làm tăng tỷ số chênh của biến cố gộp nội viện lên 4,2 lần (KTC 95%: 1,21 – 19,03; p = 0,025). Kết quả cho thấy đa hình rs854560 gen PON1 không liên quan nguy cơ ĐQTMN nhưng gợi ý có thể liên quan với biến cố nội viện ở người bệnh ĐQTMN trên nền ĐTĐ típ 2.
10 Đánh giá tác dụng điều trị ban đầu của viên nang cứng DIDALA trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 mới được chẩn đoán / Nguyễn Kim Ngọc, Nguyễn Thị Thu Hà, Phạm Thị Vân Anh // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 915-923 .- 610
Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng hạ glucose máu, hạ HbA1c và tính an toàn của thuốc DIDALA đơn trị liệu trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 mới được chẩn đoán tại Bệnh viện đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội. Phương pháp can thiệp lâm sàng, so sánh trước-sau điều trị, có đối chứng trên 70 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 mới được chẩn đoán. 35 bệnh nhân nhóm nghiên cứu uống DIDALA (Folium Mori albae) 3.420 mg/ngày, 35 bệnh nhân nhóm chứng uống metformin 1.000mg/ngày trong 12 tuần. Kết quả sau điều trị, glucose máu lúc đói ở nhóm nghiên cứu giảm từ 8,2 ± 1,4 mmol/l xuống 7,5 ± 1,6 mmol/l, HbA1c giảm từ 7,2 ± 1,0 xuống 6,6 ± 0,8 (%) với p < 0,05, hiệu quả không có sự khác biệt so với nhóm chứng điều trị bằng metformin (p > 0,05). Chưa ghi nhận tác dụng không mong muốn đáng kể trên lâm sàng và cận lâm sàng. Như vậy thuốc DIDALA đơn trị liệu có tác dụng hạ glucose máu, hạ HbA1c và an toàn trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 mới được chẩn đoán.





