CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Từ ngữ--Tiếng Việt
1 Một số đặc điểm của nhóm từ ngữ nối biểu thị quan hệ mở rộng - bổ sung trong bài báo khoa học tiếng Việt (có đối chiếu với tiếng Anh) / Ngô Thị Thu Hiền // .- 2026 .- Số 3(379) .- Tr. 95-104 .- 400
Từ ngữ nối biểu thị quan hệ mở rộng - bổ sung là một trong những nhóm từ ngữ nối được sử dụng khá phổ biến và mang tính phổ quát. Từ việc tìm hiểu vị trí của nhóm từ ngữ nối biểu thị quan hệ mở rộng - bổ sung trong sự phân loại của các nhà nghiên cứu, bài viết làm rõ một số đặc điểm về cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa - liên kết của nhóm từ ngữ nối này trong một số bài báo tiếng Việt (có đối chiếu với tiếng Anh), qua đó cho thấy vai trò quan trọng của nhóm từ ngữ nối này trong việc tạo nên sự liên kết và tính mạch lạc cho các bài báo khoa học.
2 Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ chỉ địa danh ở Hải Phòng / Đỗ Phương Lâm // .- 2026 .- Số 4(380) .- Tr. 5-14 .- 400
Bài viết khảo cứu đặc điểm ngôn ngữ và giá trị văn hóa của hệ thống địa danh thành phố Hải Phòng qua các thời kì lịch sử từ thế kỉ I CN đến nay. Trên cơ sở phân tích hơn hơn 200 địa danh tiêu biểu thuộc ba nhóm - địa danh hành chính, địa danh tự nhiên và địa danh nhân văn. Đặc biệt, bài viết lần đầu tiên phân tích hiện tượng địa danh biến mất và địa danh mới sản sinh trong bối cảnh sáp nhập hành chính 2025, nhìn nhận đây như một cuộc "biến đổi địa danh học" cần được tư liệu hóa khẩn cấp.
3 Từ ngữ xưng hô trong truyện ngắn Hoàng Khánh Duy / Trần Thanh Vân, Mai Phúc Đặng // .- 2025 .- Số 12(376) .- Tr. 186-193 .- 800
Hoàng Khánh Duy là một cây bút trẻ thuộc thế hệ 9X, tiêu biểu của văn học Nam Bộ đương đại. Bài viết góp phần khẳng định vai trò của từ ngữ xưng hô trong việc kiến tạo phong cách ngôn ngữ truyện ngắn Hoàng Khánh Duy, đồng thời nêu bật những nét đặc trưng của ngôn ngữ và văn hóa Nam Bộ.
4 Từ ngữ xưng hô quy thức của quân nhân trong tiếng Trung Quốc và tiếng Việt / Tống Văn Trường // .- 2025 .- Số 12(376) .- Tr. 79-89 .- 400
Phân tích, so sánh từ ngữ xưng hô quy thức của quân nhân trong tiếng Trung Quốc và tiếng Việt trên các bình diện về hình thức ngôn ngữ, thành phần cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa dựa trên các ngữ liệu thu thập được từ các bộ Điều lệnh. Qua đó chỉ ra những điểm giống và khác nhau, góp một tài liệu tham khảo cho nghiên cứu đối chiếu Hán - Việt về từ ngữ xưng hô, đồng thời làm phong phú hơn các nghiên cứu cụ thể về ngôn ngữ quân sự, đặc biệt là việc ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ học vào lĩnh vực quân sự.
5 Đặc điểm định danh của từ ngữ chỉ trang phục của người dao quần trắng tại xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái theo phạm trù ngữ nghĩa / Nguyễn Thị Hồng Chuyên, Nguyễn Thị Nhâm, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Giang // .- 2025 .- Số 6a(368) .- Tr. 207-214 .- 400
Tập trung dựa trên kết quả khảo sát từ ngữ chỉ trang phục của người Dao Quần Trắng để tìm hiểu, nghiên cứu các nhóm phương thức định danh chính của từ ngữ chỉ trang phục của người Dao Quần Trắng tại xã Phúc An, gồm: tiểu trường chỉ chỉnh thể trang phục, tiểu trường chỉ thân trên, tiểu trường chỉ thân dưới, tiểu trường chỉ giày dép, tiểu trường chỉ trang sức ...
6 Đặc điểm của Nickname trên facebook tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội / Đăng Thị Kim Ngân // .- 2025 .- Số 4(366) .- Tr. 16-22 .- 400
Khảo sát đặc điểm cách đặt nickname trên một số mạng xã hội Việt Nam, đặc biệt là facebook từ góc độ phân tầng xã hội. Bằng thủ pháp thống kê, nhóm nghiên cứu đã thu thập được 212 nickname trên mạng Facebook Việt Nam. Kết quả phân tích cho thấy, cách đặt nickname trên mạng xã hội rất phong phú, đa dạng, muôn màu muôn vẻ, không hạn định sự sáng tạo, độc lạ, khác thường của người sử dụng mạng xã hội.
7 Phân tích vai trò của các từ ngữ mang sắc thái hình tượng trong quảng cáo tiếng Trung Quốc và tiếng Việt / Mai Thị Ngọc Anh, Phan Thị Huế // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 75-83 .- 400
Bài viết tiến hành phân tích vai trò của sắc thái hình tượng của từ ngữ trong quảng cáo tiếng Trung Quốc, đồng thời so sánh với cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt từ đó chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách biểu đạt của các từ ngữ chỉ sắc thái hình tượng trong quảng cáo giữa hai ngôn ngữ.
8 Nguồn gốc và ý nghĩa của các từ : tấp, tấp nập, tới tấp / Nguyễn Đức Tồn, Vũ Thị Sao Chi // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 149-153 .- 400
Bài viết sử dụng phương pháp đối chiếu và phương pháp lịch sử để nghiên cứu nguồn gốc và ý nghĩa của các từ tấp, tấp nập, tới tấp. Từ đó có thể làm sáng tỏ về từ nguyên của các yếu tố cấu tạo là tấp, nập. Kết quả phân tích ngữ nghĩa các từ nói trên cũng có thể giúp chỉnh lí việc xử lí vấn đề đa nghĩa và đồng âm, cũng như mối quan hệ giữa từ toàn dân và từ địa phương của từ tấp trong những cuốn từ điển đã xuất bản. Ngoài ra, việc nghiên cứu các từ trên còn cho thấy sự tổ hợp các nét nghĩa khi các từ kết hợp với nhau trong sử dụng có thể dẫn đến sự chuyển loại của từ.
9 Nhóm từ ngữ nói biểu thị ý nghĩa giải thích – minh họa trong bài báo khoa học tiếng Việt (có đối chiếu với tiếng Anh) / Ngô Thị Thu Hiền // .- 2024 .- Số 353 - Tháng 5 .- Tr. 131-138 .- 420
Tìm hiểu một số đặc điểm về cấu tạo và chức năng liên kết của loại từ ngữ nối được thể hiện trong văn bản khoa học, cụ thể là trong một số bài báo khoa học tiếng Việt và tiếng Anh, qua đó cho thấy vai trò của chúng như là những dấu hiệu hình thức để tường minh, làm sang rõ mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu, các phần trong văn bản.
10 Đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và chức năng làm từ xưng hô của danh từ chỉ người trong tiếng Ê-Đê ở Việt Nam / Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trần Thị Dạ Thảo // .- 2024 .- Số 350 - Tháng 2 .- Tr. 103-112 .- 400
Danh từ chỉ người không chỉ có chức năng chỉ người mà còn ẩn chứa sắc thái biểu cảm, biểu hiện văn hóa cá nhân hay cộng đồng khi sử dụng. Bài viết làm rõ đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và chức năng làm từ xưng hô của danh từ chỉ người trong tiếng Ê-Đê ở Việt Nam, qua đó lí giải đặc trưng văn hóa của người Ê-Đê qua danh từ chỉ người.





