CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
5431 Xu hướng bảo hộ thương mại trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam / Nguyễn Thị Lan Anh // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 586 .- Tr. 40 - 42 .- 382

Trong nhiều thập kỷ qua, thương mại toàn cầu dựa trên lý thuyết về lợi thế so sánh cho thấy các quốc gia thường chỉ làm ra những mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh cao nhất nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Lợi thế so sánh của mỗi nền kinh tế dựa vào các yếu tố như khoa học và công nghệ, khả năng sáng tạo, nhân công rẻ, nguyên liệu dồi dào, thậm chí cả các yếu tố mang tính can thiệp của chính quyền như chính sách bảo hộ, hàng rào thế quan.. Về bản chất đó là sự phân công lao động trong dây chuyền sản xuất toàn cầu.

5432 Tác động của đại dịch Covid-19 đến thị trường lao động Việt Nam: Đề xuất giải pháp tuyển dụng cho các doanh nghiệp hậu Covid / Đặng Thanh Thủy // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 55(65) .- Tr. 43-49 .- 330

Đại dịch Covid-19 đã gây ra sự sự xáo trộn kinh tế xã hội lớn đối với hầu hết các nước trên thế giới. Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), các biện pháp phong tỏa một phần hoặc toàn diện đã ảnh hưởng tới 2,7 tỷ người lao động. Tại VN, khủng hoảng do đại dịch Covid-19 bắt đầu vào khoảng quý 1 năm 2020. Chính phủ đưa ra các biện pháp nhằm ngăn chặn và kiểm soát sự lây lan của Covid-19 đồng thời ảnh hưởng đến kinh tế xã hội cả nước mà đối tượng dễ bị tổn thương nhất chính là lực lượng lao động khi nguy cơ mất việc làm gia tăng. Nhưng bên cạnh đó, sự tác động của Covid-19 lại tạo ra những xu hướng việc làm mới nhằm thích ứng và đối phó khủng hoảng trong đại dịch. Dựa trên việc sử dụng phương pháp thống kê, thu thập dữ liệu thứ cấp, suy luận biện chứng để phân tích tác động của đại dịch Covid-19 đến thị trường lao động VN, bài viết đưa ra thực trạng thị trường lao động VN, xác định xu hướng mới trong thị trường lao động. Từ đó, bài viết cũng đề xuất một số kiến nghị trong việc xây dựng chiến lược tuyển dụng hợp lý hậu Covid-19. Mục tiêu chính của bài viết nhằm góp phần bổ sung, hoàn thiện chính sách nhân sự cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp có cái nhìn tổng quát, rõ ràng về thị trường lao động và từ đó lựa chọn được những giải pháp tuyển dụng hơp lý nên được cân nhắc áp dụng trong giai đoạn phục hồi kinh tế.

5433 Tác động đa ngành của dịch bệnh đến kinh tế và những gợi ý cho Việt Nam / Nguyễn Thị Quý // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 55(65) .- Tr. 50-54 .- 330

Dịch bệnh tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Bằng phương pháp thống kê, mô tả và phân tích, tác giả làm rõ được tác động của dịch bệnh đối với nền kinh tế ở hai góc độ trực tiếp và gián tiếp. Tác động đó diễn ra trên nhiều lĩnh vực của hoạt động của nền kinh tế ở quy mô và mức độ khác nhau: y tế, nông nghiệp, du lịch, thương mại – dịch vụ và một số lĩnh vực khác. Tuy nhiên, về mặt tổng thể dịch bệnh đã làm kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia nói riêng và trên phạm vi toàn thế giới nói chung. Dựa trên cơ sở phân tích tác động đa ngành của dịch bệnh đến kinh tế với số liệu minh chứng cụ thể, tác giả đưa ra những gợi ý về mặt chính sách đối với VN nhằm đối phó hiệu quả đối với tình hình dịch bệnh đang diễn ra phực tạp hiện nay để đảm bảo ổn định và tăng trưởng kinh tế.

5434 Các giải pháp TP. Hồ Chí Minh cần thực hiện khi xây dựng đô thị thông minh / Nguyễn Đăng Đệ // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 55(65) .- Tr. 56-62 .- 624

Với việc Chính phủ “Phê duyệt đề án phát triển đô thị thông minh bền vững VN giai đoạn 2018 -2025 và định hướng đến năm 2030”, với xu thế chung của nhiều thành phố lớn trong khu vực và thế giới và đặc biệt với những lợi ích mà đô thị thông minh mang lại, TP.HCM đang quyết tâm xây dựng đô thị thông minh theo thương hiệu của chính mình. Vấn đề là TP.HCM sẽ xây dựng đô thị thông minh như thế nào và mô hình đô thị thông minh TP.HCM dự kiến sắp tới sẽ ra sao. Bài viết này tổng hợp một số kinh nghiệm xây dựng đô thị thông minh của các thành phố khác trong khu vực và thế giới, ý kiến một số chuyên gia về xây dựng đô thị thông minh, đánh giá thực trạng TP.HCM đang đối mặt và đưa ra một số giải pháp trọng yếu TP.HCM cần thực hiện để xây dựng đô thị thông minh đúng hướng, hiệu quả.

5435 Các nhân tố tác động đến dự định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại TP. Hồ Chí Minh / // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 55(65) .- Tr. 63-68 .- 658

Nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến dự định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại TP.HCM” nhằm xác định các nhân tố thuộc môi trường đại học tác động đến dự định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM. Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng được sử dụng trong nghiên cứu này. Dữ liệu nghiên cứu được tiến hành thu thập thông qua phương pháp lấy mẫu thuận tiện với kích thước mẫu là 991. Kết quả nghiên cứu chỉ ra có 6 nhân tố thuộc môi trường đại học tác động đến dự định khởi nghiệp: Khóa học khởi nghiệp, ý kiến người xung quanh, truyền cảm hứng, học qua thực tế, hoạt động ngoại khóa và chính sách hỗ trợ. Dựa trên kết quả nghiên cứu này, nhà quản trị tại các trường đại học đưa ra được các chính sách nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên.

5436 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phần mềm ứng dụng nhỏ tại TP. Hồ Chí Minh / Nguyễn Xuân Quyết, Bùi Thành Lộc // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 55(65) .- Tr. 69-78 .- 658

Doanh nghiệp phát triển và cung cấp phần mềm ứng dụng (DNPMN) tại TP.HCM thường được xây dựng từ các chuyên gia đầu ngành, xuất thân từ các đơn vị công nghệ thông tin (CNTT) lớn, có mối quan tốt, sở hữu giải pháp, công nghệ, phần mềm ứng dụng ưu việt, như: Phần mềm nhân sự (JeeHR), siêu thị (JeeMarket), điều hành trực tuyến (JeeDoc), kho (JeeWMS)...và nhận diện bằng trí tuệ nhân tạo (JeeAI)...nhưng đang chịu áp lực cạnh tranh gay gắt do mới thâm nhập thị trường, không có lợi thế về năng lực cạnh tranh, như: Hệ thống phân phối yếu, dịch vụ hỗ trợ và chăm sóc khách hàng chưa tốt, thương hiệu chưa có, năng lực quản trị còn hạn chế, thiếu vốn, chưa có chiến lược marketing và bán hàng... Từ nghiên cứu thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DNPMN và sử dụng ma trận chiến lược hội nhập (QSPM), ma trận SWOT đề xuất các chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của DNPMN tại TP.HCM và VN.

5437 Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vốn tín dụng ngân hàng với hộ nuôi tôm tại huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang / Nguyễn Huỳnh Ngọc Khanh, Bùi Văn Trịnh // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 55(65) .- Tr. 79-88 .- 658

Nhằm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vốn nông hộ nuôi tôm từ các tổ chức tín dụng chính thức, tác giả khảo sát từ 150 hộ tại huyện Kiên Lương và sử dụng hồi qui để phân tích. Kết quả hồi qui tobit, có 6 yếu tố tác động đến lượng tiền vay ngân hàng của họ: Số năm sinh sống tại địa phương, trình độ học vấn, diện tích đất nuôi tôm, thu nhập trung bình hộ, quan hệ xã hội và giá trị tài sản thế chấp. Xuất phát từ kết quả phân tích, 3 hàm ý chính sách chính được đề xuất là nâng cao trình độ hộ nuôi tôm, cải thiện mức thu nhập của hộ và mở rộng diện tích đất sản xuất thông qua cơ cấu lại đất nuôi tôm.

5438 Đánh giá nhân tố tác động đến quyết định đầu tư tại các cảng container ở Đồng Nai / Lê Thị Hằng, Lê Tấn Phước, Nguyễn Quang Giáp // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 55(65) .- Tr. 87-95 .- 658

Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá nhân tố tác động đến quyết định đầu tư tại các cảng container VN bằng phương pháp phân tích thứ bậc mờ từ quan điểm của nhà đầu tư. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Quyết định đầu tư tại các cảng container gồm 4 nhân tố và 16 tiêu chí, và (2) Bằng phương pháp phân tích thứ bậc mờ, kết quả cho thấy trọng số của các nhân tố như sau: Tỷ suất lợi nhuận (34%), Cơ chế điều hành cảng (29,88%), Lợi thế của cảng (26,55%), và Chi phí đầu tư và hoạt động (9,38%). Đối với tầng thứ 2 của mô hình cấu trúc thứ bậc, ba tiêu chí được nhà đầu tư đánh giá là quan trọng nhất gồm: Khung pháp lý rõ ràng (13%), Chính sách hỗ trợ nhà đầu tư (11%), Thuế doanh nghiệp (11%), và Tỷ lệ tăng trưởng hàng hóa qua cảng (9%). Dựa vào kết quả nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu có một số đề xuất như sau: tiếp tục áp dụng chính sách thuế như hiện tại, hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến việc thu hút đầu tư, đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu trang thiết bị từ nước ngoài, tiếp tục áp dụng chính sách thuế như hiện tại, đặc biệt cần phải mở rộng các khu vực nước sâu để các tàu công suất lớn có thể cập bến, cải tạo các khu neo đậu tàu (berth length) để nâng cao hiệu suất xử lý hàng hóa tại các khu vực bốc dỡ hàng hóa (container terminal), khuyển khích và mở rộng sản xuất, đặt biệt khuyến khích hoạt động đầu tư sản xuất ở khu vực xung quanh và bên trong cảng.

5439 Sử dụng mô hình trọng lực đánh giá hoạt động xuất khẩu giữa ASEAN và Trung Quốc trong khuôn khổ ACFTA / Bùi Tiến Thịnh, Trần Văn Hùng // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 55(65) .- Tr. 96-102 .- 658

Bài viết sử dụng mô hình trọng lực thương mại để đánh giá tác động của ACFTA đến giá trị xuất khẩu của các thành viên ASEAN và Trung Quốc trong khuôn khổ ACFTA trong khoảng thời gian từ 2001 – 2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy ACFTA mang đến hiệu ứng tạo lập thương mại và chuyển hướng thương mại tích cực lên thương mại hàng hóa xuất khẩu của các quốc gia thành viên. Cụ thể Các biến có tác động tích cực đến xuất khẩu của ASEAN và Trung Quốc là: GDP của nước xuất khẩu, GDP nước nhập khẩu, chung đường biên giới, chung ngôn ngữ, biến giả ACFTA. Các biến có tác động âm đến xuất khẩu của ASEAN và Trung Quốc là: Dân số của nước xuất khẩu, dân số nước nhập khẩu, khoảng cách hai quốc gia.

5440 Tác động của thâm hụt ngân sách và cung tiền tới lạm phát tại một số nước châu Á / Hồ Thúy Trinh // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 55(65) .- Tr. 103-108 .- 658

Bài viết nhằm đánh giá sự tác động của các yếu tố thâm hụt ngân sách và cung tiền đến lạm phát tại một số các quốc gia châu Á. Bài viết đã sử dụng dữ liệu của một quốc gia châu Á, đó là: VN, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Indonesia, Singapore, Hàn Quốc, Pakistan, Bangladesh, Cambodia, Ấn Độ giai đoạn 2004 – 2016. Bằng phương pháp ước lượng dành cho dữ liệu bảng, kết quả thực nghiệm cho thấy cung tiền tác động tiêu cực đến lạm phát, trong khi đó, biến thâm hụt ngân sách tác động không có ý nghĩa thống kê đến lạm phát.