CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
3941 Hoạt động của tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam " đòn bẩy" góp phân thúc đẩy tài chính toàn diện / Trần Trọng Triết // Ngân hàng .- 2022 .- Số 4 .- Tr. 23-26 .- 332.1

Bài viết tập trung phân tích kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra, từ đó đề xuất các chính sách biện pháp thúc đẩy hoạt động tổ chức TCVM trong thời gian tới.

3942 Mối quan hệ giữa doanh nghiệp Fintech và hoạt động kinh doanh ngân hàng : những vấn đề đặt ra với Việt Nam / Kiều Hữu Thiện // Ngân hàng .- 2022 .- Số 4 .- Tr. 27-33 .- 658

Tập trung đề cập sự ra đời và hoạt động của Fintech, các tác động có thể xảy ra đối với hoạt động ngân hàng, từ đó gợi mở một số vấn đề đối với Việt Nam.

3943 Bàn về vấn đề phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã / Phan Văn Tính, Trịnh Thu Thủy // Ngân hàng .- 2022 .- Số 4 .- Tr. 34-36 .- 332.12

Tập trung phân tích những yếu tố bất cập trong việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã theo quy định của Nghị định số 45/2021/NĐ-CP và đề xuất một số giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn trong việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong cho vay.

3944 Áp dụng chính sách tài chính hỗ trợ khởi nghiệp : kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam / Phạm Đức Anh, Bùi Thị Mến // .- 2022 .- Số 4 .- Tr. 43-51 .- 658

Bài viết nhằm mục tiêu khảo lược và phân tích kinh nghiệm thực tiễn tại các quốc gia khác nhau trong thiết kế và thực thi chính sách tài chính hỗ trợ cho khởi nghiệp. Các chính sách tín dụng và cơ bản được áp dụng tại các quốc gia bao gồm chính sách thuế, chính sách tín dụng và chính sách lãi suất. kết quả phân tích cho thấy, chính sách tài chính của chính phủ thông qua việc tạo thuận lợi trong tiếp cận vốn ưu đãi, có thể giúp DNKN cắt giảm chi phí hoạt động và chi phí tài chính nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh vượt trội.

3945 Triển vọng phát triển tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương / Vũ Xuân Thanh // Ngân hàng .- 2022 .- Số 4 .- Tr. 52-57 .- 332.11

Theo dõi và quản lý các giao dịch tiền ảo;Nghiên cứu phát hành tiền điện tử của NHTW(CBDC); Cấu trúc CBDC và hệ thống tài chinhsCow hội và thách thức liên quan đến việc phát hành và sử dụng CBDC.

3946 Giải pháp Business Intelligence trên nền tảng Cloud : nghiên cứu trên tập dữ liệu tài chính / Lê Bá Thiền, Phan Thị Bích Phê, Hồ Trung Thành // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2021 .- Số 7 .- Tr. 83-101 .- 658

Các báo cáo tài chính là “xương sống” và có tầm ảnh hưởng vô cùng lớn đến việc ra quyết định và quản trị doanh nghiệp. Các hệ thống thông tin thường chỉ có nhiệm vụ lưu trữ mà thiếu đi các hệ thống báo cáo, hỗ trợ phân tích. Từ đó, hệ thống BI (Business Intelligence) trở nên cần thiết. Tuy nhiên, khi lượng dữ liệu ngày càng lớn, áp lực đặt lên các hệ thống lưu trữ, xử lý trong giải pháp BI truyền thống. Cloud BI (BI trên nền tảng điện toán) ra đời, giải quyết vấn đề về dung lượng lưu trữ, tốc độ xử lý, tính mở rộng và hiệu quả về mặt kinh tế. Trong bài báo này, một giải pháp BI trên nền tảng Cloud được nghiên cứu với các mục tiêu: 1) nguồn dữ liệu đầu vào được tiếp cận qua cổng API với phương pháp ETL (Extract - Transform - Load) cải tiến; 2) thiết kế hệ thống các Dashboard (bảng điều khiển kỹ thuật số) trên cơ sở dữ liệu tài chính được tích hợp; 3) ứng dụng kết quả nghiên cứu từ giải pháp Cloud BI vào doanh nghiệp để giải quyết những vấn đề khó khăn trong việc truy xuất, khai thác và tổng hợp dữ liệu tài chính để hỗ trợ ra quyết định hay nói khác đi là ra quyết định dựa trên dữ liệu (data-driven decision) trong lĩnh vực báo cáo tài chính được kịp thời và hiệu quả hơn.

3947 Nghiên cứu xây dựng mô hình đại học thông minh cho hoạt động quản lý đào tạo tại các trường đại học khối ngành kinh tế ở Việt Nam / Trương Việt Phương, Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Tiến Đạt // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2021 .- Số 7 .- Tr. 65-82 .- 658

Thông qua việc phân tích các nghiên cứu về mô hình Đại học thông minh, các mức độ thông minh của Đại học thông minh, và dựa trên lý thuyết nền tảng trong lĩnh vực Hệ thống thông tin về các thành phần của hệ thống thông tin, nhóm tác giả đề xuất Mô hình Đại học thông minh: Hệ thống thông tin – Cấp độ thông minh, bao gồm 5 thành phần cơ bản hướng tới 5 cấp độ thông minh khác nhau. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã đề xuất cách thức lập bảng đánh giá mức độ thông minh của các chi tiết thành phần Đại học thông minh. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đã đưa ra việc áp dụng mô hình đề xuất cho hoạt động quản lý đào tạo của trường Đại học khối ngành kinh tế ở Việt Nam. Kết quả này minh chứng cho tính khả thi khi phát triển toàn diện mô hình đại học thông minh trong các trường Đại học khối ngành kinh tế trong tương lai.

3948 Phát triển mô hình tư vấn học tập trong đào tạo trực tuyến dựa trên cộng đồng người học đa tiêu chí / Bùi Xuân Huy, Nguyễn An Tế, Trần Thị Song Minh // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2021 .- Số 7 .- Tr. 45-64 .- 658

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, hệ thống đào tạo trực tuyến (E-learning) ngày càng được nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu học tập mọi nơi, mọi lúc của người học. Hơn thế nữa, đại dịch Covid-19 dẫn đến việc tương tác trực tiếp trong hoạt động giảng dạy và học tập càng bị giới hạn do các hình thức dãn cách hoặc cách li xã hội. Đây là một ‘cú hích’ khiến cho nhu cầu nói trên ngày càng cấp thiết và sẽ không chấm dứt kể cả khi đại dịch kết thúc. Trong bối cảnh đó, bài báo đề xuất một mô hình tư vấn học tập trong đào tạo trực tuyến dựa trên cộng đồng người học đa tiêu chí nhằm mục đích cung cấp cho người học các kết quả tư vấn đa dạng như cách thức học tập, tài nguyên học tập, lựa chọn môn học, gợi ý nhóm học tập... phù hợp với đặc trưng của mình.

3949 Xây dựng mô hình hệ thống hỗ trợ quản trị Chuyển Đổi Số cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam / Nguyễn Mạnh Tuấn, Trương Văn Tú, Lê Ngọc Thạnh // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2021 .- Số 7 .- Tr. 23-44 .- 658

Nghiên cứu này đã thực hiện tổng quan về Chuyển Đổi Số (CĐS) của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), ngoài ra nghiên cứu cũng thực hiện nghiên cứu tổng quan về các phương pháp CĐS của DNVVN trên thế giới và Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã đề xuất một mô hình hệ thống hỗ trợ quản trị CĐS cho DNVVN một cách hệ thống gồm 4 giai đoạn: (1) Định vị doanh nghiệp; (2) Tầm nhìn chiến lược; (3) Phát triển lộ trình; (4) Dự án CĐS: Lên kế hoạch; Thực hiện và triển khai. Nghiên cứu cũng đã trình bày chi tiết mô hình về hệ thống hỗ trợ quản trị CĐS cho DNVVN, bước đầu đã xác định cơ sở lý luận cùng với việc phác thảo mô hình nghiệp vụ 14 bước được chia làm 4 giai đoạn. Và một mô hình kiến trúc tổng thể của hệ thống theo mô hình 3 lớp cũng được thiết lập nhằm xác định rõ kiến trúc và các công nghệ có thể được sử dụng khi hiện thực hệ thống.

3950 Các yếu tố tác động đến việc áp dụng Blockchain nhằm nâng cao hiệu suất chuỗi cung ứng tại các công ty cung cấp dịch vụ logistics ở thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Thanh Hùng // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2021 .- Số 7 .- Tr. 5-22 .- 658

Trong bối cảnh tầm quan trọng ngày càng tăng của blockchain, nghiên cứu đưa ra những đánh giá lý thuyết và phân tích thực tiễn cho việc ứng dụng công nghệ blockchain trong ngành dịch vụ hậu cần. Nghiên cứu này làm sáng tỏ việc áp dụng công nghệ blockchain tại các công ty cung cấp dịch vụ logistics ở thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở phát triển Mô hình lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ, nghiên cứu đã xác định các yếu tố tạo điều kiện áp dụng blockchain nhằm nâng cao hiệu suất chuỗi cung ứng logistics từ quan điểm của các công ty cung cấp dịch vụ logistics tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết sử dụng phương pháp định tính và định lượng (chủ yếu) với việc xây dựng mô hình kiểm định chín biến độc lập. Mẫu khảo sát được thu thập từ 195 công ty cung cấp dịch vụ logistics tại thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết đưa ra một số hàm ý quản trị và biện pháp đề xuất cho các công ty cung cấp dịch vụ logistics tại thành phố Hồ Chí Minh.