Đánh giá hiệu quả và độc tính của các thuốc EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khôi, Võ Thị Ngọc Trâm, Phan Đỗ Phương ThảoTóm tắt:
Đánh giá hiệu quả và độc tính của các thuốc EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu những bệnh nhân (BN) UTPKTBN giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR được điều trị bước một với EGFR TKI thế hệ 1 hoặc 2 tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM trong thời gian từ 01/01/2019 đến 31/12/2023. Kết quả bao gồm tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR), thời gian thất bại điều trị (TTF), tỷ lệ sống còn toàn bộ (OS) và tỷ lệ độc tính làm giảm liều hoặc ngừng điều trị. Kết quả: Tổng cộng có 282 BN, trong đó 95 BN dùng Erlotinib, 106 BN dùng Gefitinib và 81 BN dùng Afatinib. Tỷ lệ đáp ứng khách quan của nhóm Erlotinib, Gefitinib và Afatinib lần lượt là 69,5%; 73,6% và 60,5%. Trung vị thời gian thất bại điều trị của nhóm Erlotinib là 16,2 tháng; của nhóm Gefitinib là 14,2 tháng và của nhóm Afatinib là 18,9 tháng. Trung vị thời gian sống còn toàn bộ của nhóm Erlotinib là 24,4 tháng; nhóm Gefitinib là 23,5 tháng và nhóm Afatinib là 28,9 tháng. Tỷ lệ giảm liều của 3 nhóm là 14,7% ở nhóm Erlotinib; 6,6% ở nhóm Gefitinib và 39,5% ở nhóm Afatinib. Tỷ lệ ngừng điều trị do độc tính nặng là 0,94% ở nhóm Gefitinib; 2,5% ở nhóm Afatinib và không có trường hợp nào phải ngừng thuốc vĩnh viễn ở nhóm Erlotinib. Kết luận: Điều trị bước 1 bằng các EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trên các BN UTPKTBN giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR cho thấy có hiệu quả tốt với tỷ lệ đáp ứng, thời gian thất bại điều trị cũng như thời gian sống còn toàn bộ, bên cạnh đó các tác dụng phụ không mong muốn có thể kiểm soát được.





