CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Ung thư phổi

  • Duyệt theo:
1 Di căn não đơn ổ từ ung thư phổi với biểu hiện giống viêm não : ca lâm sàng và tổng quan tài liệu / Phạm Hữu Khuyên, Vũ Tiến Thế, Trần Quang Lộc, Lê Mỹ Hạnh, Lê Tuấn Vũ, Lê Thanh Dũng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 360 - 362 .- 610

Chẩn đoán phân biệt giữa tổn thương di căn não đơn độc và viêm não đôi khi gặp nhiều khó khăn do biểu hiện hình ảnh không điển hình và triệu chứng lâm sàng mơ hồ. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam 42 tuổi, vào viện với triệu chứng đau đầu, chóng mặt, tổn thương não đơn ổ vùng trán trái, không phù não, không ngấm thuốc viền rõ, không tăng sinh mạch hay bất thường trên phổ MRI. Bệnh nhân được điều trị triệu chứng và theo dõi. Sau 3 tháng, tổn thương tiến triển, sinh thiết cho kết quả ung thư biểu mô tuyến di căn từ phổi. Trường hợp này cho thấy cần thận trọng khi đánh giá tổn thương não đơn độc không điển hình, và nhấn mạnh vai trò của tầm soát toàn thân trong các trường hợp nghi ngờ di căn.

2 Khảo sát tỷ lệ dấu ấn sinh học PD-L1 trên người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ và một số yếu tố liên quan / Hồ Hồng Hải, Hà Thị Anh, Ngô Thị Tuyết Hạnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 155 - 161 .- 610

Nghiên cứu nhằm khảo sát kết quả tỷ lệ dương tính PD-L1 bằng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch với dòng kháng thể SP263 Ventana và đánh giá một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 109 đối tượng mẫu bệnh phẩm được chẩn đoán xác định ung thư phổi nguyên phát không tế bào nhỏ từ tháng 11-2023 đến tháng 08- 2024. Kết quả: Tỷ lệ mẫu bệnh phẩm có kết quả biểu hiện chỉ số PD-L1 ở mức độ dương tính thấp đạt 40,4% (tương ứng 44 trường hợp ), nhóm âm tính chiếm 44,0% (tương ứng 48 trường hợp) và dương tính cao chiếm 15,6% (tương ứng 17 trường hợp). Có 56,9% xuất hiện đột biến gen EGFR. Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ dương tính PD-L1 gồm: Giai đoạn xấm lấn T4 (theo phân loại TNM) (chiếm 75,0% dương tính), giai đoạn di căn hạch N3 (chiếm 87,5% dương tính), giai đoạn di căn xa M1 (chiếm 70,4% dương tính), giai đoạn IV theo TNM (chiếm 78,6% dương tính), giới tính nam (OR 4,55 95%CI 1,19-8,41, p <0,05), yếu tố nguy cơ có hút thuốc lá (OR 1,96 95%CI 1,09-2,31, p <0,05), thể trạng thừa cân/béo phì (chiếm 88,9% dương tính), có đột biến EGFR (OR 1,85 95%CI 1,17-4,01, p <0,05). Kết luận: Trên 109 đối tượng ung thư phổi không tế bào nhỏ, biểu hiện của dấu ấn sinh học PD-L1 chiếm đa số với 56,0%, các yếu tố liên quan gồm giới tính, giai đoạn bệnh theo TNM, có hút thuốc lá và thể trạng thừa cân/béo phì.

3 Xác định trình trạng đột biến gen EGFR trên bệnh phẩm phẫu thuật bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ năm 2022 – 2023 tại Bệnh viện K / Lê Thị Thu Thủy, Trần Thị Tươi // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2026 .- Số CD2 .- Số CD2;Tr. 162 - .- 610

Xác định tình trạng đột biến gen EGFR trên bệnh phẩm phẫu thuật bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện K năm 2022 – 2023 và tìm mối liên quan của đột biến với tuổi, giới, giai đoạn bệnh và típ mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được thực hiện trên 238 bệnh nhân phẫu thuật và được chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ tại bệnh viện K. Kết quả: Tỷ lệ đột biến gen EGFR giai đoạn sớm chiếm 49,2% các trường hợp. Trong đó, phát hiện 1 đột biến (88,9%) hay gặp hơn 2 đột biến phối hợp. Đối với trường hợp đơn đột biến, vị trí Del exon 19 và đột biến L858R exon 21 chiếm phần lớn với tỷ lệ lần lượt 50,0% và 39,4%. Đột biến gen EGFR ở bệnh nhân nữ cao hơn nam. Các típ mô bệnh học như lót vách, nang, nhú, vi nhú cao hơn các típ đặc và típ biến thể. Tỷ lệ đột biến gen EGFR không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, giai đoạn, típ mô học của UTPKTBN . Kết luận: Đột biến gen EGFR trong UTPKTBN trên bệnh phẩm phẫu thuật chiếm tỷ lệ cao, trong đó hay gặp nhất là đột biến ở Del exon 19 và đột biến L858R exon 21. Tỷ lệ đột biến có liên quan đến giới.

4 Chẩn đoán đột biến EGFR trong ung thư phổi không tế bào nhỏ với các mẫu bệnh phẩm dịch khoang cơ thể không có tế bào ác tính / Nguyễn Sơn Lam, Trần Trang Thủy, Nguyễn Ngọc Vũ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 170 - 176 .- 610

Dựa vào tính chất các mẫu dịch khoang cơ thể có hiện diện các mảnh DNA lơ lửng giúp thực hiện chẩn đoán đột biến EGFR. Từ nguyên lý này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu sau: (a) Khảo sát tỉ lệ phát hiện đột biến EGFR trong các mẫu bệnh phẩm mô học đúc khối paraffin. (b) Khảo sát tỉ lệ phát hiện đột biến EGFR trong các mẫu dịch khoang cơ thể. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca lâm sàng, tiến cứu, thống kê mô tả cắt ngang. Các trường hợp UTPKTBN được chẩn đoán đột biến EGFR bằng các Test EGFR Version 1 và EGFR Version 2. Kết quả: Có 117 ca bệnh trong nghiên cứu: Kết quả chẩn đoán đột biến gen EGFR trên mẫu mô học đúc khối paraffin: (+) 49 ca # 41,88%, đa số vẫn là hai loại đột biến Exon 19 Deletion và Exon 21 L858R (53% và 23%) nhạy với các thuốc ức chế tyrosin kinase nhóm I và II. Kết quả chẩn đoán đột biến EGFR trên các mẫu dịch khoang cơ thể với đa số mẫu dịch khoang cơ thể thực hiện chẩn đoán đột biến EGFR là dịch màng phổi (91 ca tương đương 77,77%). Tỉ lệ phát hiện đột biến trong mẫu dịch màng phổi và dịch não tủy cao nhất (29,67% và 83,33%). So sánh tỉ lệ phát hiện đột biến EGFR trên mẫu dịch khoang cơ thể (35 /117 ca tương đương 29,91%) với tỉ lệ phát hiện trên mẫu mô học thấp hơn có ý nghĩa thống kê (29,91% so với 41,88%, giá trị p = 0,0125). Kết luận: Khảo sát chẩn đoán đột biến EGFR trong dịch các khoang cơ thể cho thấy đây là một bước ứng dụng mới giúp chẩn đoán đột biến EGFR ở các trường hợp khó lấy được mẫu bệnh phẩm mô học, đặc biệt trong các ca bệnh UTPKTBN tiến triển di căn. Cần nâng cao kỹ thuật thực hiện chẩn đoán đột biến EGFR trong mẫu dịch khoang cơ thể.

5 Đánh giá hiệu quả và độc tính của các thuốc EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR / Nguyễn Tuấn Khôi, Võ Thị Ngọc Trâm, Phan Đỗ Phương Thảo // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 203 - 211 .- 610

Đánh giá hiệu quả và độc tính của các thuốc EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu những bệnh nhân (BN) UTPKTBN giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR được điều trị bước một với EGFR TKI thế hệ 1 hoặc 2 tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM trong thời gian từ 01/01/2019 đến 31/12/2023. Kết quả bao gồm tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR), thời gian thất bại điều trị (TTF), tỷ lệ sống còn toàn bộ (OS) và tỷ lệ độc tính làm giảm liều hoặc ngừng điều trị. Kết quả: Tổng cộng có 282 BN, trong đó 95 BN dùng Erlotinib, 106 BN dùng Gefitinib và 81 BN dùng Afatinib. Tỷ lệ đáp ứng khách quan của nhóm Erlotinib, Gefitinib và Afatinib lần lượt là 69,5%; 73,6% và 60,5%. Trung vị thời gian thất bại điều trị của nhóm Erlotinib là 16,2 tháng; của nhóm Gefitinib là 14,2 tháng và của nhóm Afatinib là 18,9 tháng. Trung vị thời gian sống còn toàn bộ của nhóm Erlotinib là 24,4 tháng; nhóm Gefitinib là 23,5 tháng và nhóm Afatinib là 28,9 tháng. Tỷ lệ giảm liều của 3 nhóm là 14,7% ở nhóm Erlotinib; 6,6% ở nhóm Gefitinib và 39,5% ở nhóm Afatinib. Tỷ lệ ngừng điều trị do độc tính nặng là 0,94% ở nhóm Gefitinib; 2,5% ở nhóm Afatinib và không có trường hợp nào phải ngừng thuốc vĩnh viễn ở nhóm Erlotinib. Kết luận: Điều trị bước 1 bằng các EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trên các BN UTPKTBN giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR cho thấy có hiệu quả tốt với tỷ lệ đáp ứng, thời gian thất bại điều trị cũng như thời gian sống còn toàn bộ, bên cạnh đó các tác dụng phụ không mong muốn có thể kiểm soát được.

6 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ và hai lỗ ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm tại Bệnh viện Phổi Trung ương / Đinh Văn Lượng, Lê Tú Linh, Đặng Duy Đức, Nguyễn Trung Thành, Hoàng Thị Bích Việt, Vũ Quý Dương // .- 2024 .- Tập 183 - Số 10 .- Tr. 131-139 .- 610

Phẫu thuật nội soi là được xem là tiêu chuẩn vàng cho điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu 465 bệnh nhân ung thư phổi không tế bảo nhỏ giai đoạn sớm, được phẫu thuật nội soi cắt u phổi từ năm 06/2016 đến năm 12/2023.

7 Kết quả điều trị afatinib bước 1, liều khởi trị 30 mg/ngày trên ung thư phổi không tế bào nhỏ, giai đoạn muộn, có đột biến EGFR / Vũ Hà Thanh, Tạ Văn Tờ, Nguyễn Thị Thái Hòa, Trương Công Minh, Bùi Xuân Thắng // .- 2024 .- Tập 176 - Số 03 - Tháng 5 .- Tr. 105-113 .- 610

Afatinib là một thuốc ức chế tyrosine kinase được bộ y tế phê duyệt để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn muộn. Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn IIIC/IV (AJCC 8th), mô học là ung thư biểu mô tuyến, có đột biến EGFR, điều trị bằng afatinib khởi trị 30 mg/ngày, tại Bệnh viện K từ 4/2018 đến 10/2023 nhằm mục tiêu đánh giá đáp ứng, sống thêm không bệnh tiến triển và tác dụng không mong muốn.

8 Bước đầu đánh giá tính an toàn của liệu pháp miễn dịch tự thân ở bệnh nhân ung thư phổi / Nguyễn Thị Thuý Mậu, Trần Huy Thịnh, Hồ Mỹ Dung, Trịnh Lê Huy, Trần Vân Khánh, Nguyễn Đức Tuấn, Lê Ngọc Anh, Hoàng Huy Hùng, Nguyễn Thanh Bình // .- 2023 .- Tập 172 - Số 11 - Tháng 11 .- Tr. 23-31 .- 610

Nghiên cứu mô tả, tiến cứu trên 10 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ được truyền khối tế bào miễn dịch tự thân (tế bào diệt tự nhiên (NK) hoặc tế bào gamma delta T (γδT)), tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm đánh giá tính an toàn của liệu pháp trong quá trình điều trị, kết thúc điều trị, sau điều trị 3 tháng và 6 tháng. Các chỉ số đánh giá được phân loại theo hướng dẫn CTCAE 5.0 năm 2017.

9 Chi phí trực tiếp cho y tế trong điều trị ung thư phổi giai đoạn muộn dựa trên phân tích dữ liệu lớn từ bảo hiểm y tế Việt Nam năm 2020 / Phạm Huy Tuấn Kiệt, Phạm Cẩm Phương, Nguyễn Văn Chỉnh, Nguyễn Thị Thanh Hà // .- 2023 .- Tập 172 - Số 11 - Tháng 11 .- Tr. 210-216 .- 610

Nghiên cứu khảo sát chi phí trực tiếp cho y tế trong điều trị ung thư phổi giai đoạn muộn (UTPGDM) của người bệnh dựa trên cơ sở dữ liệu lớn từ Bảo hiểm Xã hội Việt Nam. Đây là nghiên cứu hồi cứu, mô tả tất cả các trường hợp ung thư phổi giai đoạn muộn từ cơ sở dữ liệu Bảo hiểm Xã hội Việt Nam trong năm 2020 và được quy đổi về năm 2023 bằng chỉ số giá tiêu dùng. Đặc điểm người bệnh và đặc điểm chi phí trực tiếp cho y tế được phân tích bằng các mô tả thống kê cơ bản.

10 Kết quả điều trị hóa chất bộ đôi có Platinum bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến EGFR thường gặp sau kháng thuốc Tyrosine Kinase Inhibitors tại Bệnh viện K / Trần Thị Hậu, Đào Minh Thế // .- 2023 .- Tập 169 - Số 8 - Tháng 9 .- Tr. 147-154 .- 610

Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 31 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến EGFR thường gặp sau kháng TKIs được điều trị hóa chất bộ đôi có platinum từ tháng 01/2019 đến tháng 06/2023 tại Bệnh viện K nhằm mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị nhóm bệnh nhân trên.