Kết quả tìm kiếm
Có 82790 kết quả được tìm thấy
9821Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục học trực tuyến của sinh viên các Trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu này sử dụng kết hợp lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT), lý thuyết phù hợp nhiệm vụ với công nghệ (TTF) và sự hài lòng của sinh viên để điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục học trực tuyến của sinh viên sau khi đại dịch covid-19 được kiểm soát. Dựa trên dữ liệu thu thập được từ 752 sinh viên đang học đại học tại thành phố Hồ Chí Minh.Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dựng để đánh giá và kiểm định mô hình. Kết quả cho thấy rằng, kỳ vọng hiệu quả, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội, và sự hài lòng là những yếu tố dự đoán quan trọng đến ý định tiếp tục học trực tuyến của sinh viên đại học. Điều kiện thuận lợi và sự phù hợp nhiệm vụ với công nghệ có ảnh hưởng gián tiếp đến ý định tiếp tục thông qua sự hài lòng.Các phát hiện giúp các nhà nghiên cứu và các nhà thực hành hiểu rõ hơn về ý định tiếp tục học trực tuyến của sinh viên đại học.

9822Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của giới trẻ : nghiên cứu trường hợp giới trẻ trên địa bàn Hà Nội

Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của giới trẻ Việt Nam. Trên cơ sở dữ liệu khảo sát 303 người trẻ trên địa bàn Hà Nội, các phân tích đã chỉ ra rằng, có 4 nhân tố tác động đến ý định tiêu dùng xanh của giới trẻ với mức độ ảnh hưởng giảm dần gồm: giá trị tiêu dùng xanh; hệ thống kích hoạt hành vi; thái độ đối với tiêu dùng xanh và sự gắn kết với tiêu dùng xanh. Từ kết quả nghiên cứu đưa ra một số gợi ý cho các nhà quản trị nhằm nâng cao ý định tiêu dùng xanh của giới trẻ.

9823Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của giới trẻ Việt Nam

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của giới trẻ tại Việt Nam. Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên Lý thuyết hành động hợp lý (TRA). Thông qua khảo sát 356 sinh viên đang theo học tại Đại học Bách khoa Hà Nội, kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố thái độ và chuẩn chủ quan của người tiêu dùng đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định tiêu dùng xanh của giới trẻ; trong đó, chuẩn mực chủ quan về hành vi tiêu dùng xanh là nhân tố có tác động mạnh nhất đến ý định tiêu dùng xanh của giới trẻ Việt Nam.

9824Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi mua thời trang xa xỉ của Gen Z Việt Nam

Nghiên cứu xem xét vai trò của các biến số mở rộng kết hợp cùng các biến số trong mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) gốc để giải thích ý định và hành vi mua hàng thời trang xa xỉ của Gen Z tại Việt Nam. Thông qua kiểm định mô hình nghiên cứu với cỡ mẫu là 388 được thu thập từ Gen Z (11-26 tuổi) tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy tất cả các giả thuyết đều tác động trực tiếp cùng chiều với ý định và hành vi mua thời trang xa xỉ. Sử dụng kết quả nghiên cứu này, các thương hiệu thời trang xa xỉ có thể chủ động xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp thúc đẩy lượt bản và tăng doanh thu với các khách hàng Gen Z Việt Nam.

9825Các yếu tố ảnh hưởng đến ỷ lại xã hội trong học tập nhóm của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến ỷ lại xã hội trong học tập nhóm của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội được tiến hành khảo sát trên 323 sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố về sự thiếu tự tin của sinh viên; sự thiếu kĩ năng giao tiếp của sinh viên; sự mơ hồ của sinh viên về nhiệm vụ nhóm; sự thiếu động lực học tập của sinh viên; đặc điểm nhân cách của sinh viên; ý nghĩa của nhiệm vụ nhóm được giao; sự thiếu công bằng khi đánh giá điểm trong học tập nhóm; trưởng nhóm có ảnh hưởng đến ỷ lại xã hội trong học tập nhóm của sinh viên. Nghiên cứu cũng chỉ ra 3 yếu tố mạnh nhất trong sự dự báo cho ỷ lại xã hội trong học tập nhóm của sinh viên là sự thiếu tự tin của sinh viên, sự thiếu kĩ năng giao tiếp của sinh viên và sự mơ hồ của sinh viên về nhiệm vụ nhóm. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hạn chế sự xuất hiện ỷ lại xã hội trong học tập nhóm của sinh viên cũng như nâng cao hiệu quả học tập nhóm của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội.

9826Các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế

Bài viết nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế ở Việt Nam. Từ cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu thông qua phương trình hồi quy đến kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất các giải pháp để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế.

9827Các yếu tố ảnh hưởng mức độ chấp nhận tiêm ngừa Covid-19 của người dân

Một nghiên cứu cắt ngang đã lấy mẫu thuận tiện trên 258 người từ 18 tuổi trở lên tại hai khu vực thuộc tỉnh Khánh Hòa là thành phố Nha Trang và huyện Vạn Ninh. Dữ liệu được thu thập dựa trên khảo sát trực tuyến thông qua Google biểu mẫu. Yếu tố tác động đến mức độ chấp nhận tiêm ngừa Covid-19 lần lượt theo mức độ giảm dần là: tín hiệu hành động, nhận thức lợi ích của tiêm chủng, rào cản về độ tin cậy vaccine và khả năng lây nhiễm khi tiêm, nhận thức sự nguy hiểm của bệnh. Việc chấp nhận tiêm ngừa của người dân không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nhân khẩu học như giới tính, nơi ở, độ tuổi và học vấn. Từ các kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị được đề xuất để tăng mức độ chấp nhận tiêm chung vaccine ngừa Covid của người dân.

9828Các yếu tố ảnh hưởng tới áp dụng marketing 4.0 tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Trình bày các giai đoạn phát triển của Marketing và đề xuất giải pháp cho hoạt động Marketing 4.0 đối với doanh nghiệp.

9829Các yếu tố ảnh hưởng tới áp dụng thành công SPC: nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp sản xuất cơ khí chế tạo tại Việt Nam

Phương pháp SPC là sử dụng các công cụ thống kê để giám sát, quản lý và cải tiến quy trình sản xuất. Bài báo chỉ ra những yếu tố chính ảnh hưởng đến áp dụng thành công SPC trong các doanh nghiệp cơ khí chế tạo tại Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng từ 272 doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu chỉ ra 06 yếu tố làm nên thành công SPC trong các doanh nghiệp, bao gồm: (i) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (ii) Làm việc nhóm; (iii) Đào tạo và giáo dục về SPC; (iv) Vai trò của bộ phận chất lượng; (v) Triển khai thực hiện SPC; (vi) Lưu trữ dữ liệu. Đồng thời nghiên cứu cũng gợi ý một số giải pháp quản lý để thực hiện thành công SPC trong các doanh nghiệp.

9830Các yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu vốn của các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Cơ cấu vốn là yếu tố quyết định tới giá trị của doanh nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tới cơ cấu vốn sẽ là cơ sở để các nhà quản trị quyết định lựa chọn cơ cấu vốn cho doanh nghiệp. Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tới cơ cấu vốn của các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm tại Việt Nam. Nghiên cứu đã chỉ ra cơ cấu vốn của các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm Việt Nam tuân theo lý thuyết trật tự phân hạng, theo đó, có 5 yếu tố có ảnh hưởng rõ rệt đến cơ cấu vốn là hiệu quả kinh doanh, tuổi doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu tài sản.