Kết quả tìm kiếm
Có 82790 kết quả được tìm thấy
9711Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

Nghiên cứu này nhằm mục đích đề xuất các hàm ý chính sách nâng cao sự tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) của người dân trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang nhằm ổn định an sinh xã hội trên địa bàn. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp 200 người dân đã và đang tham gia BHXTTN, bằng phương pháp phân tích hồi quy đa biến; nhóm tác giả đã tìm ra được 4 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHXHTN của người dân là: Gia đình, cảm nhận hành vi xã hội, quan tâm sức khỏe, và kiểm soát hành vi. Từ kết quá nghiên cứu trên, nhóm tác giả đã đề xuất các hàm ý chính sách góp phần nâng cao sự tham gia BHXHTN của người dân tại huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thời gian tới.

9712Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia du lịch cộng đồng của hộ gia đình ở tỉnh Tiền Giang

Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia du lịch cộng đồng của hộ gia đình ở tỉnh Tiền Giang.

9713Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thay đổi dịch vụ ngân hàng của giới trẻ tại Hà Nội

Nghiên cứu này xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chuyển đổi ngân hàng của khách hàng trẻ tại Hà Nội, nhấn mạnh chất lượng dịch vụ là yếu tố chính. Tuy nhiên, các ngân hàng không nên chỉ dựa vào việc cải thiện chất lượng dịch vụ để giữ chân khách hàng. Các yếu tố khác cũng đáng được quan tâm. Hiểu được những ảnh hưởng này giúp các nhà quản lý phân bổ nguồn lực hiệu quả để giảm tỷ lệ khách hàng bỏ dịch vụ và thu hút khách hàng mới. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết thực tế cho các ngân hàng, tăng cường khuôn khổ phương pháp luận và góp phần vào sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng.

9714Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

Bằng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn với 12 quản lý khách sạn và phân tích nội dung với công cụ InfraNodus, 5 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục sử dụng CNTT và truyền thông đã được xác định. Trong đó áp lực từ khách hàng và đối thủ cạnh tranh là những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng CNTT và truyền thông của các khách sạn. Trên cơ sở kết quả , bài viết đưa ra những hàm ý để cải thiện việc sử dụng CNTT và truyền thông đối với các khách sạn tại thành phố Đà Nẵng.

9715Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Trà Vinh

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Logitic kết hợp với dữ liệu được khảo sát trực tiếp từ 195 khách hàng cá nhân đac và chưa vay vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Công thương Việt Nam - chi nhánh Trà Vinh, để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn. Dựa trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu có liên quan, mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm 7 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân.

9716Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định về việc chọn sản phẩm và dịch vụ của khách hàng tại Công ty TNHH MTV Toàn Thịnh Khương tại Tp. Đà Nẵng

Chương 1: Cơ sở lý và mô hình nghiên cứu; Chương 2: Thực trạng khách hàng quyết định về việc chọn sản phẩm và dịch vụ của khách hàng tại công ty TNHH MTV Toàn Thịnh Khương tại TP Đà Nẵng; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu; Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.

9717Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính tại các công ty thành viên thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính tại các công ty thành viên thuộc Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), sử dụng dữ liệu bảng cân bằng từ 33 doanh nghiệp thuộc TKV, giai đoạn 2013 - 2019. Bằng những kiểm định lựa chọn kỹ thuật hồi quy phù hợp với bộ dữ liệu, nghiên cứu phát hiện các yếu tố ảnh hưởng rủi ro tài chính tại các công ty thành viên thuộc TKV là: Khả năng thanh toán nhanh (QR), tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS), hiệu năng hàng tồn kho (IT), hiệu năng tài sản cố định (FAT), hiệu năng tổng tài sản (TAT) và hiệu năng các khoản nợ phải thu (RT), cơ cấu nguồn vốn (ES), cơ cấu tài sản cố định (FAS), tỷ lệ sở hữu nhà nước (STATE), tuổi của doanh nghiệp (AGE). Trên cơ sở đó khuyến nghị các chính sách thích hợp để phòng ngừa rủi ro tài chính tại các công ty thành viên thuộc TKV.

9718Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản nghiên cứu thực nghiệm : trường hợp Việt Nam

Bài viết sử dụng dữ liệu Bankscope và ADB trong giai đoạn 2005-2015 để nghiên cứu nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản (RRTK) trường hợp Việt Nam. Thông qua phương pháp SGMM cho dữ liệu bảng, nghiên cứu cho thấy RRTK chịu ảnh hưởng bới các yếu tố sau: chất lượng tài sản thanh khoản, vốn ngân hàng, dự phòng rủi ro tín dụng, thu nhập lãi thuần, lạm phát và cung tiền.

9719Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu này sử dụng mẫu gồm 338 quan sát từ 28 ngân hàng trong giai đoạn 2010-2021 để xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, nợ xấu ngân hàng tại Việt Nam. Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy, kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, nợ xấu ngân hàng như: lợi nhuận trên tài sản, dự phòng rủi ro cho vay, tỷ lệ an toàn vốn, vốn hóa ngân hàng, quy mô ngân hàng, biên lãi ròng và đòn bẩy. Nghiên cứu này đóng góp ý nghĩa thực tiễn cho các cơ quan chức năng nhằm tăng cường hiệu quả thị trường, nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ xấu ngân hàng và giảm thiểu rủi ro tín dụng.

9720Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng công cụ tài chính phái sinh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định sử dụng công cụ tài chính phái sinh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam. Mẫu nghiên cứu gồm 592 doanh nghiệp niêm yết có hoạt động xuất nhập khẩu trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam. Dựa trên kết quả hồi quy, 3 yếu tố tác động thuận chiều đến quyết định sử dụng sử dụng công cụ tài chính phái sinh gồm Hệ số giá ghi sổ trên giá thị trường, Quy mô của doanh nghiệp xuất nhập khẩu, và Đòn bẩy tài chính. Ngược lại, Hệ số thanh toán nhanh, và Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) có ảnh hưởng ngược chiều. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đưa ra nhằm thúc đẩy sử dụng các công cụ tài chính phái sinh đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.