9011Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa phương cấp tỉnh
Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào địa phương cấp tỉnh, nhấn mạnh vai trò của FDI trong phát triển kinh tế - xã hội. Qua phân tích thực trạng, bài viết chỉ ra một số yếu tố quan trọng tác động đến thu hút FDI như: chất lượng hạ tầng kỹ thuật, môi trường pháp lý - thể chế, nguồn nhân lực, chi phí sản xuất và công tác xúc tiến đầu tư. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, những hạn chế về hạ tầng, thủ tục hành chính, chất lượng lao động và chính sách chưa đồng bộ đã làm giảm sức hút đối với nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút FDI theo hướng chọn lọc, hiệu quả và phát triển bền vững trong thời gian tới.
9012Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trồng ớt ở tỉnh An Giang
Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến thu nhập của nông hộ trồng ớt ở tỉnh An Giang thông qua hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập từ 200 nông hộ được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên. Mục tiêu phân tích bao gồm: thực trạng sản xuất của nông hộ, các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ, đề xuất các giải pháp nâng cao thu nhập của nông hộ sản xuất ở tỉnh An Giang. Kết quả phân tích cho thấy, nông hộ sản xuất ớt chịu ảnh hưởng của các yếu tố nội tại như tuổi chủ hộ, chi phí phân, chi phí thu hoạch.
9013Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ trồng lúa tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
Nhóm tác giả đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 200 hộ nông dân tại 5 xã thuộc huyện Châu Thành, thông qua mô hình hồi quy tuyến đa biến để có đươc kết quả là 7 biến ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ. Dựa vào kết quả nghiên cứu, đề xuất hàm ý chính sách nhằm góp phần nâng cao thu nhập nông hộ trồng lúa trên địa bàn Huyện trong thời gian tới
9014Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hành quản lý rủi ro tuân thủ thuế tại Việt Nam
Bằng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, khảo sát 400 phiếu bảng hỏi với các cán bộ công chức thuế, sử dụng phần mềm SPSS 26 để phân tích. Kết quả cho thấy, có 5 nhân tố có ý nghĩa thống kê tác động thuận chiều đến nhân tố thực hành quản lý rủi ro tuân thủ thuế (MD), mức độ tác động từ cao đến thấp đó là: (i) Nhân tố thái độ; (ii) Nhân tố ngoại sinh (NS); (iii) Nhân tố nhận thức về tính hữu ích (HI); (iv) Nhân tố nhận thức về tính dễ sử dụng (SD) và (v) Nhân tố bối cảnh xã hội (XH). Từ kết quả nghiên cứu này, bài viết cũng đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò quản lý rủi ro tuân thủ thuế của công chức thuế Việt Nam.
9015Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của các trường phổ thông công lập thành phố Hà Nội
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố khẳng định và mô hình cấu trúc tuyến tính để phân tích dữ liệu thu thập được thông qua một cuộc khảo sát với các biến quan sát được đo lường bởi thang đo Likert 5. Nghiên cứu cũng bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường phổ thông công lập của Thành phố Hà Nội.
9016Các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa trung gian Nhật Bản – Trung Quốc
Trên cơ sở phân tích những thay đổi trong quan hệ thương mại hàng hóa trung gian Nhật Bản – Trung Quốc từ năm 2001 đến nay, bài viết đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ này trong thế kỷ XXI, trong đó có những nhân tố quốc tế và những nhân tố xuất phát từ tình hình phát triển kinh tế trong nước của Nhật Bản và Trung Quốc.
9017Các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tiền gửi không kì hạn của các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Huy động tiền gửi là nghiệp vụ quan trọng nhất và là một bộ phận cấu thành của hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng huy động nguồn vốn đầu vào với chi phí thấp để cho vay với lãi suất cạnh tranh trong nền kinh tế và tiền gửi không kì hạn (CASA) giữ một vai trò rất quan trọng. CASA là chỉ tiêu phản ánh chi phí huy động vốn và vì vậy, ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ CASA của các ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ 34 NHTM trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2017 - 2021. Sử dụng các mô hình hồi quy với dữ liệu bảng, kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng máy rút tiền tự động, số lượng máy POS, giá trị giao dịch qua thanh toán điện tử có mối tương quan thuận với tỉ lệ CASA của các ngân hàng. Ngược lại, mạng lưới chi nhánh có tương quan nghịch với tỉ lệ CASA. Ngoài ra, nghiên cứu này chưa tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của số lượng tài khoản, lợi nhuận trên tổng tài sản, quy mô ngân hàng đến tỉ lệ CASA.
9018Các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn các tỉnh Nam Trung Bộ
Trình bày kết quả nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện của các dự án giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn các tỉnh Nam Trung Bộ.
9019Các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn các tỉnh Nam Trung Bộ
Trình bày kết quả nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện của các dự án giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn các tỉnh Nam Trung Bộ.
9020Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương của lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bài viết hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến tiền lương trong doanh nghiệp, đề xuất và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương của lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Thông qua nghiên cứu thực chứng tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, sử dụng mô hình hồi qui tuyến tính để đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương của lao động trực tiếp trong DNNVV. Từ đó, nghiên cứu đưa ra đề xuất có tính ứng dụng thực tiễn cao cho các nhà quản trị để thực thi có hiệu quả tiền lương của lao động trực tiếp trong các DNNVV thuộc các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.





