Kết quả tìm kiếm
Có 80174 kết quả được tìm thấy
62441Tác động gián tiếp của quản trị nguồn nhân lực định hướng trách nhiệm xã hội đến kết quả làm việc của người lao động thông qua cam kết tổ chức

Kết quả phân tích cho thấy, SRHRM có tác động tích cực đến cả ba thành phần của cam kết tổ chức là: Cam kết tình cảm, cam kết chuẩn mực, và cam kết liên tục. Thêm vào đó, cam kết tình cảm và cam kết chuẩn mực có tác động tích cực đến kết quả làm việc của người lao động. Tuy nhiên, cam kết liên tục không tác động đến kết quả làm việc của người lao động. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy SRHRM có tác động gián tiếp đến kết quả làm việc của người lao động thông qua cam kết tình cảm và cam kết chuẩn mực. Từ những phát hiện trên, các hàm ý quản trị được thảo luận làm cơ sở để các doanh nghiệp nâng cao kết quả làm việc của người lao động.

62442Tác động giới của công nghệ thông tin và truyền thông ở Việt Nam

Sau phần giới thiệu khái quát, phần II trình bày sự phát triển của CNTT-TT và vị trí của lao động nữ trong nghành này, tác động tổng hợp của CNTT-TT tới khoảng cách giới. Cuối cùng là một số ý kiến mang tính kết luận và đề xuất về chính sách

62443Tác động hai chiều giữa bất định chính sách kinh tế và ổn định ngân hàng

Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ hai chiều giữa sự bất định về chính sách kinh tế (EPU) và ổn định của ngân hàng (NH) tại 20 quốc gia giai đoạn 2009 - 2023 bằng cách sử dụng công cụ ước tính DGMM dựa trên dữ liệu bảng điều khiển cấp NH không cân bằng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại tác động hai chiều giữa EPU và ổn định NH. Cụ thể, EPU được đo lường bởi chỉ số “Economics Policy Uncertainty - EPU” có tác động nghịch chiều đến ổn định NH và ngược lại, ổn định NH cũng có tác động nghịch chiều đến EPU. Tuy nhiên, không tìm thấy kết quả tương tự với EPU được đo lường thông qua chỉ số “World Uncertainty Index - WUI”. Nghiên cứu thực nghiệm của tác giả có ý nghĩa chính sách cụ thể đối với các NH, nhà quản lý và cơ quan chính phủ trong việc ra quyết định nhằm ổn định hệ thống NH trong bối cảnh EPU hiện nay.

62444Tác động hiệu ứng J trong cán cân thương mại Việt Nam

Xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại trên cơ sở phân tích số liệu lịch sử giữa Việt Nam và một số đối tác thương mại chính; đồng thời trả lời câu hỏi liệu hiệu ứng tuyến J có tồn tại ở Việt Nam không. Các biến số vĩ mô trong mô hình nghiên cứu gồm biến tỷ giá thực đa phương, GDP Việt Nam và GDP các nước đối tác. Nghiên cứu sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL để xem xét mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn của các biến quan sát. Kết quả chỉ phát hiện dạng hiệu ứng tuyến J ở hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam - Hoa Kỳ, còn các đối tác khác thì không có hiệu ứng này thậm chí không có mối quan hệ giữa biến tỷ giá và cán cân thương mại trong dài hạn.

62445Tác động hợp tác kinh tế Nga - Trung Quốc trong bối cảnh trừng phạt của phương Tây : phân tích kim ngạch thương mại song phương giai đoạn 2010 – 2023

Phân tích tác động của hợp tác kinh tế Nga - Trung Quốc trong bối cảnh các lệnh trừng phạt của phương Tây áp đặt lên Nga, trong đó tập trung chính vào việc phân tích kim ngạch thương mại song phương giai đoạn 2010-2023 của Nga và Trung Quốc, đồng thời đánh giá cơ hội, thách thức và triển vọng tương lai của mối quan hệ thương mại này.

62446Tác động kép từ dịch Covid -19 và xung đột Nga - Ukraine đến xăng dầu : giải pháp nào giúp doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh

Bài viết đánh giá hệ quả của giá xăng dầu tăng tăng do "tác động kép" của đại dịch Covid-19 và "chiến dịch quân sự đặc biệt" của Nga - Ukraine đến các doanh nghiệp, từ đó đưa ra một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhằm phục hồi sản xuất, kinh doanh trong điều kiện "bình thường mới", thích ứng an toàn.

62447Tác động khủng hoảng tài chính và đại dịch Covid -19 đến tăng trưởng cho vay ngân hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính (financial crisis) và ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 (health crisis) đến tăng trưởng cho vay ngân hàng tại Việt Nam. Để hồi quy mô hình bảng động đề xuất, tác giả sử dụng công cụ ước lượng GMM hệ thống để đạt được kết quả hồi quy hiệu quả và kiểm soát nội sinh. Các ước lượng trong nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ 31 ngân hàng trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2021. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các ngân hàng Việt Nam đã cắt giảm mạnh nguồn cung cho vay trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Trong khi đó, tăng trưởng cho vay trong giai đoạn nghiên cứu phản ứng không nhất quán với khủng hoàng tài chính. Nghiên cứu này sẽ bổ sung vào nhánh tài liệu về COVID-19 vốn đang rất phát triển hiện nay. Song song đó, đây là một trong những nghiên cứu hiếm hoi khảo sát đồng thời ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và bùng nổ đại dịch COVID-19 đến cho vay ngân hàng.

62448Tác động kiều hối đến phát triển tài chính tại Việt Nam

Nghiên cứu tập trung đánh giá tác động của kiều hối đến mức độ phát triển tài chính tại VN bằng mô hình định lượng VAR. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi dòng kiều hối chảy vào VN sẽ làm tăng lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại (NHTM); tuy nhiên, mức tăng này còn thấp.

62449Tác động kinh tế của biến đổi khí hậu đến ngành đánh cá Việt Nam

Thủy sản là một ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam và chiếm 3,07% GDP toàn quốc, tuy nhiên, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thời tiết và thiên tai. Sử dụng dữ liệu bảng của 28 tỉnh ven biển từ năm 2002-2018, bài báo đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) bao gồm thiên tai và thời tiết lên sản lượng đánh bắt cá của Việt Nam. Bài báo chỉ ra lượng mưa và áp thấp nhiệt đới không có ảnh hưởng rõ rệt lên sản lượng đánh bắt cá. Ngoài ra, bài báo tìm ra kết quả khá thú vị là bão và tốc độ gió trung bình làm tăng sản lượng đánh bắt cá khi các yếu tố khác không đổi. Từ nghiên cứu về tác động của BĐKH lên sản lượng đánh bắt cá, bài báo đưa ra một số hàm ý chính sách trong việc quản lý bền vững ngành cá trước sự biển đổi của thiên tai và thời tiết.

62450Tác động kinh tế của cánh đồng mẫu lớn: Áp dụng mô hình khác biệt kép bậc hai

Tăng năng suất trong lĩnh vực nông nghiệp để tăng thu nhập và phát triển nông thôn đồng thời đảm bảo môi trường và hệ sinh thái cho mục tiêu phát triển bền vững là vấn đề sống còn không chỉ đối với Việt Nam mà với tất cả các quốc gia trên thế giới. Việc áp dụng mô hình sản xuất cánh đồng mẫu lớn nhằm đáp ứng mục tiêu này. Sử dụng dữ liệu mảng ba vòng từ điều tra mức sống dân cư năm 2010, 2012 và 2014, bài nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế của mô hình cánh đồng mẫu lớn trong lĩnh vực trồng lúa của Việt Nam. Để xử lý vấn đề nội sinh, tự chọn mẫu và năng lực thay đổi theo thời gian ở cấp hộ, bài nghiên cứu sử dụng mô hình khác biệt kép bậc 2 (Double Difference-in-Differences estimator). Kết quả từ bài nghiên cứu cho thấy, cánh đồng mẫu lớn chỉ thực sự đem lại lợi ích cho các nông hộ khi doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm.