62211Tác động của rủi ro tín dụng tới rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở một số nước và khuyến nghị
Tác động của rủi ro tín dụng đến rủi ro thanh khoản trong hệ thống NHTM ở một số nước; một số khuyến nghị.
62212Tác động của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới điều tiết của lạm phát và biến động lạm phát
Kết quả cho thấy, khi chỉ số lạm phát tính bằng CPI (chỉ số giá tiêu dùng) thấp hơn 5,33% và độ bất định lạm phát thấp hơn 2 thì rủi ro tín dụng có tác động ngược chiều đến ổn định ngân hàng và ngược lại, tác động cùng chiều khi lạm phát lớn hơn 7,2% và bất định lạm phát cao hơn 2,8. Đối với rủi ro thanh khoản, khi lạm phát thấp hơn 3,5% hoặc bất định lạm phát nhỏ hơn 0,7, thanh khoản có tác động cùng chiều đến ổn định ngân hàng và tác động ngược chiều khi lạm phát cao hơn 4% hoặc bất định lạm phát lớn hơn 0,8. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra tác động của lạm phát và biến động chỉ số lạm phát đến mỗi NHTM là không giống nhau, phụ thuộc vào mức độ thanh khoản và rủi ro tín dụng của từng NHTM. Dựa trên kết quả phân tích, nhóm tác giả nêu một số khuyến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị ngân hàng trong kiểm soát lạm phát, quản trị rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản nhằm tăng ổn định hệ thống NHTM Việt Nam.
62213Tác động của sai lệch tỷ giá đến tăng trưởng kinh tế
Trình bày một số vấn đề về sai lệch tỷ giá ảnh hưởng tới hàng hóa, sai lệch tỷ giá ảnh hưởng tới đầu tư trong và nước ngoài, sai lệch tỷ giá càng lớn thì càng gây tổn hại tới các hoạt động của nền kinh tế, nội tệ định giá thực cao hay thấp sẽ tạo ra sự nhiễu loạn trong hàng xuát nhập khẩu...
62214Tác động của sáng kiến "Vành đai, con đường" đối với quan hệ Việt - Trung
Chương 1: Tổng quan về quan hệ Việt - Trung và sáng kiến “vành đai, con đương” cua Trung Quốc; Chương 2: Quan hê Việt - Trung từ sau sáng kiến “vành đai, con đường” của Trung Quốc; Chương 3: Nhận xét chung về sáng kiến “vành đai, con đường” trong quan hệ hợp tác Việt – Trung.
62215Tác động của sáng tạo cá nhân với dự định và hành vi khởi nghiệp
Các nghiên cứu về khởi nghiệp hiện nay thiếu vắng các nghiên cứu về hành vi khởi nghiệp và mối quan hệ giữa dự định khởi nghiệp và hành vi khởi nghiệp. Nghiên cứu này kiểm định tác động của sáng tạo cá nhân tới hành vi khởi nghiệp của sinh viên đại học chính quy tại Việt Nam dựa theo mô hình về hành vi có kế hoạch (TPB). Mẫu nghiên cứu gồm 701 sinh viên đại học ở cả khối kỹ thuật và khối kinh tế- quản trị kinh doanh trên địa bàn Hà Nội. Kết quả khảo sát cho thấy sáng tạo cá nhân có ảnh hưởng đến thái độ, khả năng kiểm soát hành vi, dự định khởi nghiệp và hành vi khởi nghiệp của sinh viên, đồng thời là nhân tố điều tiết mối quan hệ giữa dự định và hành vi khởi.
62216Tác động của sở hữu gia đình đến kết quả tài chính của các công ty gia đình ở Việt Nam
Bài viết nghiên cứu mối quan hệ giữa sở hữu gia đình và kết quả tài chính của các công ty niêm yết sở hữu gia đình ở Việt Nam (gọi chung là các công ty gia đình). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 57 công ty thỏa mãn các tiêu chí nhận diện công ty gia đình trên Sàn Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn từ năm 2012 - 2017. Sử dụng mô hình tác động cố định (FEM), kết quả nghiên cứu đã cung cấp một bằng chứng thực nghiệm cho thấy tỷ lệ sở hữu gia đình có ảnh hưởng đến kết quả tài chính (ROA, ROE) theo phương trình tuyến tính bậc hai có dạng hình chữ “U ngược”.
62217Tác động của sở hữu nhà nước tới kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng của các doanh nghiệp niêm yết có vốn nhà nước. Trong nghiên cứu này, tác động của cấu trúc và mức độ sở hữu của các nhóm cổ đông tới kết quả kinh doanh sẽ được tập trung phân tích và làm rõ. Đặc biệt là mức độ sở hữu của nhà nước đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Thật vậy, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng cấu trúc sở hữu có mối quan hệ nhất định đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể, tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa sở hữu nhà nước với kết quả kinh doanh, trong khi đó thì sở hữu tư nhân trong nước lại có mối quan hệ cùng chiều với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
62218Tác động của số ngày lưu kho đến hiệu quả hoạt động : bằng chứng thực nghiệm tại các công ty sản xuất được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam
Nghiên cứu này đánh giá tác động của số ngày lưu kho (IND) đến hiệu quả hoạt động (ROA) của các công ty sản xuất được niêm yết tại Việt Nam. Sử dụng một mẫu 364 công ty thời kỳ 2012-2023, kết quả kiểm định bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data) cho thấy thời gian lưu kho kéo dài làm suy giảm hiệu quả hoạt động. Ngoài ra, các yếu tố dòng tiền hoạt động kinh doanh (OCF), quy mô (SIZE) và tốc độ tăng trưởng (GROW) có tác động tích cực đến ROA, trong khi tỷ lệ nợ (LEV), chi phí kinh doanh (SBE) và tác động của đại dịch COVID-19 ảnh hưởng tiêu cực. Những phát hiện này làm nổi bật vai trò quan trọng của việc tối ưu hóa quản lý hàng tồn kho để cắt giảm chi phí lưu trữ và cải thiện hiệu quả sử dụng vốn. Đồng thời, công ty cần duy trì sự ổn định của dòng tiền, tận dụng lợi thế quy mô và thúc đẩy tăng trưởng cũng như kiểm soát hợp lý cấu trúc vốn, tối ưu hóa chi phí quản lý và xây dựng chiến lược thích ứng với các cú sốc kinh tế nhằm nâng cao khả năng sinh lợi bền vững.
62219Tác động của so sánh xã hội đến lòng tự trọng, sự đố kị và hành vi mua sắm bốc đồng của khách hàng trên các trang mạng xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh
Mục đích nghiên cứu xác định sự tác động của so sánh xã hội đến lòng tự trọng, sự đố kị và hành vi mua sắm bốc đồng của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên học thuyết về so sánh xã hội, các học thuyết liên quan đến tâm lí, hành vi mua sắm bốc đồng của con người và các số liệu được thu thập trước đây làm cơ sở để xây dựng, phát triển mô hình. Kết quả phân tích bộ dữ liệu với 358 mẫu quan sát là những khách hàng thường xuyên sử dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo, Instagram tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy so sánh xã hội hướng lên tác động đến lòng tự trọng, sự đố kị của khách hàng và các tâm lý tiêu cực này lại tác động đến hành vi mua hàng bốc đồng. Đa phần khi khách hàng thực hiện hành vi mua sắm bốc đồng này chủ yếu là giải quyết việc xoa dịu và bù đắp cho tâm lý tiêu cực. Việc mua sắm này giúp khách hàng thấy mình không thua thiệt với những người khác mà bản thân họ so sánh trên mạng xã hội chứ hoàn toàn họ không tập trung vào sự hữu ích thật sự của sản phẩm này mang lại.
62220Tác động của sự bất định tới khả năng thanh toán của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Nghiên cứu này xem xét tác động của sự bất định trong ngành Ngân hàng đối với rủi ro mất khả năng thanh toán (rủi ro vỡ nợ) của 30 ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2007 - 2021. Sử dụng thước đo về độ bất định vi mô dựa trên sự phân tán theo mặt cắt của các cú sốc cấp độ ngân hàng, kết quả chỉ ra rằng mức độ bất định cao hơn trong ngân hàng có thể gia tăng rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng, thông qua chỉ số Z-score. Vì bằng chứng được thu thập từ tập dữ liệu đại diện tốt cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, phát hiện này chứng minh tầm quan trọng của sự ổn định trong ngành Ngân hàng trong việc đạt được mục tiêu duy trì tính an toàn và lành mạnh của từng thành viên tham gia thị trường.





