62181Tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời: Bằng chứng từ các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh
Đánh giá sự tác động của “quản trị vốn lưu động” lên “khả năng sinh lời” của công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công ty cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2006 đến 2014. Kết quả cho thấy quản trị vốn lưu động giúp công ty giải quyết những gánh nặng về tài chính trong ngắn hạn và tăng cường tính hiệu quả bằng việc cải thiện chuỗi cung ứng hoặc chính sách tín dụng, nhưng chúng lại không ảnh hưởng đến “khả năng sinh lời” của công ty trong mẫu.
62182Tác động của quảng cáo qua mạng xã hội đến ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng thành phố Hà Nội
Bài viết cung cấp thông tin để các doanh nghiệp bán hàng trực tuyến có thể tìm giải pháp vượt qua và phát triển trong thời kỳ dịch bệnh. Kết quả nghiên cứu chỉ ra có 4 yếu tố quảng cáo qua mạng xã hội ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng. Trong đó các yếu tố như tương tác có tính giải trí, độ tin cậy đối với bản thân và xã hội và tính thông tin có tác động tích cực lên ý định mua của khách hàng. Ngược lại, yếu tố sự phiền nhiễu có ảnh hưởng tiêu cực đến khách hàng.
62183Tác động của quảng cáo trên facebook đến ý định mua hàng của khách hàng tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu tìm hiểu và kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố thành phần của quảng cáo trên Facebook, nhận diện thương hiệu với ý định mua hàng của những người xem quảng cáo trên Facebook, sử dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) với mẫu gồm 236 quan sát là những người sử dụng Facebook đang sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ý định mua hàng không những chịu tác động trực tiếp từ nhận thức về thương hiệu, mà còn chịu tác động vừa trực tiếp vừa giản tiếp từ giá trị quảng cáo trên Facebook và phản ứng cảm xúc thông qua ba yếu tố: tỉnh giải trí, thông tin và sự quấy nhiễu. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực quảng cáo trên mạng xã hội. Từ khóa: giá trị quảng cáo, phản ứng cảm xúc, nhận diện thương hiệu, ý định mua hàng, quảng cáo trên.
62184Tác động của quảng cáo truyền hình đến thái độ tiêu dùng sữa tươi : trường hợp nghiên cứu tại thành phố Cần Thơ
Phân tích tác động của quảng cáo truyền hình đến thái độ tiêu dung sữa tươi thông qua dữ liệu khảo sát có được từ sự tham gia của 160 đáp viên đang sinh song và làm việc trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Kết quả phân tích cho thấy co một nhân tố mới được hình thành và có ảnh hưởng lớn đến thái độ người tiêu dung sữa tươi đó là Mức độ đầu tư của quảng cáo. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chứng minh được rằng các yếu tố Cảm xúc người xem, Độ tin cậy của quảng cáo, Tần suất của quảng cáo và Yếu tố giải trí có tác động tích cực đến thái độ người tiêu dung sữa tươi.
62185Tác động của quảng cáo và khuyến mãi đến giá trị thương hiệu nước giải khát
Làm rõ mối quan hệ giữa quảng cáo và khuyến mãi với giá trị thương hiệu. Đầu tiên, nghiên cứu sơ bộ bằng kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn trực tiếp để xây dựng các thang đo nghiên cứu. Sau đó, nghiên cứu chính thức với kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi (n=339) để thu thập dữ liệu….
62186Tác động của quy định đối với hoạt động ngân hàng và loại hình sở hữu lên mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng: Bằng chứng từ các quốc gia Châu Á
Nghiên cứu này khám phá mối quan hệ giữa các quy định đối với hoạt động ngân hàng (bank regulation) và mức độ chấp nhận rủi ro (risk-taking) của các ngân hàng. Sử dụng bộ dữ liệu các ngân hàng thuộc 19 quốc gia Châu Á trong giai đoạn 1996-2018, chúng tôi nhận thấy phần lớn các biến quy định có mối quan hệ cùng chiều với mức độ rủi ro của các ngân hàng trong mẫu quan sát. Điều này có nghĩa là, các quy định áp dụng cho hệ thống ngân hàng càng nghiêm ngặt, mức độ chấp nhận rủi ro càng cao. Ngoài ra, chúng tôi còn tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng sở hữu nước ngoài làm giảm mức độ chấp nhận rủi ro, trong khi sở hữu nhà nước làm tăng mức độ này của các ngân hàng.
62187Tác động của quy định về môi trường đến chuyển đổi xanh theo định hướng toàn diện
Mục tiêu chính của nghiên cứu này hướng đến việc tìm hiểu tác động của quy định về môi trường đến thực hiện chuyển đổi xanh toàn diện. Nghiên cứu cũng hướng đến việc tìm hiểu tác động của hiệu quả chuyển đổi số bền vững đến mối quan hệ giữa quy định về môi trường và chuyển đổi xanh toàn diện. Ngoài ra, vai trò của năng lực trí tuệ của kế toán viên trong việc thúc đẩy thực hiện chuyển đổi xanh toàn diện thông qua khai thác tiềm năng của quy định về môi trường và hiệu quả chuyển đổi số bền vững cũng được kiểm định trong nghiên cứu này. Mô hình cấu trúc tuyến tính được sử dụng để phân tích dữ liệu thống kê từ 683 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra một số hàm ý chính sách hữu ích.
62188Tác động của quy định về tính tương đương trong chương trình giám sát cá da trơn theo Luật Nông trại 2014 của Hoa Kỳ đối với xuất khẩu cá da trơn Việt Nam
Phân tích và làm rõ 3 vấn đề: (i) Bối cảnh ban hành chương trình giám sát cá da trơn theo quy định Luật Nông trại 2014; (ii) Quy định về tính tương đương theo Luật nông trại Hoa Kỳ (iii) Đánh giá sự tương thích của quy định giám sát cá da trơn theo quy định Luật nông trại 2014 với quy định của WTO.
62189Tác động của quy mô công ty đến quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời: Thực nghiệm tại Việt Nam
Nghiên cứu tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về vai trò của quy mô công ty trong mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời, một mặt nhằm bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hướng nghiên cứu này, mặt khác kỳ vọng là cơ sở cho các hàm ý quản trị trong việc điều chỉnh quy mô công ty nhằm sử dụng đòn bẩy tài chính để tối đa hoa khả năng sinh lời của các công ty tại Việt Nam.
62190Tác động của quy mô hội đồng quản trị đến mức chấp nhận rủi ro của các công ty cổ phần tại Việt Nam
Bài viết trình bày 2 vấn đề quan trọng: kiểm định tác động âm của quy mô hội đồng quản trị đến chấp nhận rủi ro của doanh nghieepjcos được tìm thấy đối với các doanh nghiệp Việt Nam.





