42151Mua thâu tóm và phòng vệ công ty: Kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản và Hoa Kỳ
Bài viết đề cập: Những nguyên tắc cơ bản về mua công ty, một số kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản và Hoa Kỳ về đảm bảo công bằng, hạn chế thâu tóm thù địch đối với công ty mục tiêu, biện pháp phòng vệ; Khái quát một số thương vụ mua bán công ty và bất cập phát sinh; Để từ đó kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về mua thâu tóm và phòng vệ công ty trong bối cảnh hiện tại ở Việt Nam.
42152Múa thiên cẩu
Giới thiệu loại hình múa dân gian lâu đời ở Hội An - Múa thiên cẩu, những hoạt động múa thiên cẩu ở Hội An, múa thiên cẩu với múa lân, múa sư tử, những vấn đề văn hóa liên quan.
42153Mua và bán doanh nghiệp – một hướng cấu trúc lại quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) được coi là giải pháp cứu cánh hữu hiệu cho tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó tái cấu trúc hệ thống tài chính ngân hàng được quan tâm hơn cả. Bài viết giới thiệu về thực trạng này và các hướng chiến lược.
42154Mức độ ảnh hưởng của các nhà quản trị đến phân tầng thẻ điểm cân bằng tại Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông
Từ tổng quan nghiên cứu ứng dụng mô hình Thẻ điểm cân bằng (BSC), bài viết đã đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhóm nhà quản trị đến phân tầng BSC. Kết quả áp dụng mô hình này để đo lường ảnh hưởng của các nhóm nhà quản trị đến phân tầng BSC tại Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT-Vinaphone) cho thấy nhóm nhà quản trị cấp cao có ảnh hưởng chính yếu đến phân tầng BSC thành công, tiếp theo là nhóm BSC và nhóm nhà quản trị cấp trung. Các kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần củng cố quan điểm chung của nhiều nhà nghiên cứu, mà còn cung cấp sở cứ cho các nhà quản trị VNPT- Vinaphone bố trí nguồn lực phù hợp, tăng cường mức độ tham gia nhằm ứng dụng BSC thành công tại doanh nghiệp; cũng như góp phần định hướng cho các nhà quản trị doanh nghiệp nói chung triển khai ứng dụng thành công mô hình Thẻ điểm cân bằng.
42155Mức độ ảnh hưởng của giá trị hợp lí đến sự hòa hợp về phương dệin đo lường giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế
Nghiên cứu đo lường mức độ hòa hợp giữa các quy định của kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế về phương diện đo lường và xác định mức độ ảnh hưởng của giá trị hợp lí đến chỉ số hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán quốc tế với các quy định về đo lường của kế toán Việt Nam (chuẩn mực kế toán và thông tư hướng dẫn) trước và sau khi điều chỉnh ảnh hưởng của giá trị hợp lí. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam là 54%, giữa chuẩn mực kế toán quốc tế và thông tư là 57%; và giá trị hợp lí là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sự hòa hợp này, với mức độ ảnh hưởng lên đến 34%. Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng về mức độ tương đồng, cũng như làm rõ nguyên nhân ảnh hưởng đến sự không tương đồng giữa các quy định về đo lường của kế toán của Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế; đồng thời, nghiên cứu cũng đóng góp thêm phương pháp để đo lường các nguyên nhân tác động đến mức độ hòa hợp này.
42156Mức độ áp dụng các phương pháp hạch toán chi phí và tính giá thành trong các doanh nghiệp xây dựng
Xây dựng là ngành kinh tế có tính đặc thù đối với hoạt động và hạch toán kế toán. Để đáp ứng yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, đòi hỏi cán bộ kế toán phải cung cấp kịp thời đầy đủ các thông tin liên quan, nhất là các vấn đề về chi phí, giá thành công trình. Vì vậy, việc nghiên cứu mức độ vận dụng các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và giá thành trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam là cần thiết. Từ phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả phân tích tần suất của phần mềm SPSS để thực hiện thống kê mô tả thực trạng các phương pháp hạch toán chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam.
42157Mức độ biến động tỷ giá và truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp Hồi quy chuyển tiếp trơn (Smooth transition regression model – STR model) nhằm tìm kiếm bằng chứng về mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào lạm phát phụ thuộc vào mức độ biến động tỷ giá ở Việt Nam. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy tồn tại sự phản ứng bất đối xứng của lạm phát trước biến động của tỷ giá. Theo đó, mức độ truyền dẫn sẽ khác biệt nhau tùy thuộc mức độ biến động trong tỷ giá ở dưới hoặc trên mức ngưỡng 0,8%/tháng. Trong dài hạn, mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào lạm phát sẽ cao hơn khi biến động của tỷ giá vượt mức ngưỡng. Kết quả này cho thấy động cơ duy trì thị phần có thể là nguyên nhân làm thay đổi hành vi điều chỉnh giá của các doanh nghiệp tại Việt Nam trước cú sốc trong tỷ giá.
42158Mức độ biểu hiện của gen CYP2D6 trong máu bệnh nhân động kinh điều trị bằng thuốc Carbamazepine
Đánh giá mức độ biểu hiện của protein và hoạt tính của enzym CYP2D6 giúp dự đoán khả năng chuyển hoá thuốc CBZ, từ đó cho phép tiên liệu có hay không tác dụng phụ của thuốc. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã tiến hành đánh giá mức độ biểu hiện của gen CYP2D6 trong mẫu máu tổng số của các BN bị động kinh điều trị CBZ bằng phương pháp Real-time PCR và tìm hiểu mối liên quan giữa mức độ biểu hiện của gen CYP2D6 với mức độ dị ứng của BN.
42159Mức độ căng thẳng và hành vi ứng phó khi thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Duy Tân
Mô tả mức độ căng thẳng và hành vi ứng phó khi thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Duy Tân. Xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ căng thẳng khi thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Duy Tân. Xác định mối tương quan giữa mức độ căng thẳng và hành vi ứng phó khi thực tập lâm sàng của sinh viên Điều dưỡng trường Đại học Duy Tân.
42160Mức độ chính xác của các mô hình định giá cổ phần : bằng chứng từ các báo cáo phân tích trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Kết quả đo lường mức độ chính xác của các mô hình định giá cho thấy: 1. Kết quả định giá cổ phiếu tại các báo cáo phân tích được phát hành tại thị trường chứng khoán VN có mức độ chính xác thấp hơn so với các nước phát triển; 2. Mô hình định giá chiết khấu dòng tiền (DCF) có mức độ chính xác cao hơn so với mô hình định giá so sánh theo hệ số P/E; 3. Không đủ cơ sở để khẳng định việc sử dụng kết hợp giữa mô hình DCF và mô hình P/E không góp phần cải thiện kết quả định giá. Kêt quả nghiên cứu cung cấp thêm cơ sở cho việc lựa chọn và sử dụng các mô hình định giá tại TTCK Việt Nam, cũng như bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm tại các thị trường cận biên.





