22191Gắn kết mục tiêu phát triển bền vững trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa ở Việt Nam
Bài viết đi sâu vào đánh giá khía cạnh phát triển bền vững được đưa ra và thực hiện trong mô hình công nghiệp hóa ở Việt Nam như thế nào, bao gồm từ quá trình phát triển nhận thức của Đảng về gắn công nghiệp hóa với phát triển bền vững, đến những vấn đề đặt ra về gắn phát triển bền vững trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa và cuối cùng, bài viết đưa ra một số kiến nghị chính nhằm gắn phát triển bền vững trong quá trình tiếp tục thực hiện công nghiệp hóa trong các điều kiện mới của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
22192Gắn kết phát triển giáo dục đại học với phát triển kinh tế ở Việt Nam
Giáo dục đại học không chỉ góp phần đưa Việt Nam từ một quốc gia nghèo trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, mà còn góp phần giải quyết một số vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. Tuy nhiên, giáo dục đại học chưa thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng theo chiều sâu, sự gắn kết giữa giáo dục đại học với doanh nghiệp trong phối hợp nghiên cứu, giảng dạy còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu đưa ra hai nhóm khuyến nghị nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2025 trên cơ sở thúc đẩy sự liên kết giữa giáo dục đại học và phát triển kinh tế trong giai đoạn tới. Cụ thể phát triển giáo dục đại học tinh hoa, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu; thúc đẩy gắn kết giáo dục đại học với doanh nghiệp và thị trường lao động.
22193Gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, tài nguyên và ứng phó với biến đổi khí hậu trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa ở Việt Nam
Giới thiệu khái quát về môi trường; Tư duy, nhận thức của Đảng và Nhà nước Việt Nam về gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, tài nguyên và ứng phó với biến đổi khí hậu, thực tế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, tài nguyên và ứng phó với biến đổi khí hậu ở VN trong quá trình CNH,…
22194Gắn kết với cộng đồng thương hiệu trực tuyến và vai trò trung gian trong mối quan hệ của khách hàng với thương hiệu
Với sự phát triển của mạng xã hội, thay vì nỗ lực duy trì mối quan hệ với từng khách hàng, cộng đồng thương hiệu trực tuyến là giải pháp mới cho doanh nghiệp (DN). Nghiên cứu này mở rộng lí thuyết của chủ đề với giả thuyết vai trò trung gian gắn kết của khách hàng với cộng đồng thương hiệu từ quá trình tham gia vào cộng đồng thương hiệu đến gắn kết và ý định trung thành với thương hiệu. Bên cạnh đó, nghiên cứu lần đầu tiên kiểm định tác động gián tiếp của niềm tin thương hiệu đến gắn kết và ý định trung thành với thương hiệu thông qua gắn kết của khách hàng với cộng đồng thương hiệu. Kết quả nghiên cứu với 640 thành viên cộng đồng thương hiệu các nhãn hiệu thực phẩm chức năng VithairPlus, Younger, FiliformBerry tại VN (thời gian khảo sát từ tháng 3 đến tháng 6/2016) đã khẳng định các giả thuyết đặt ra. Đặc biệt gắn kết với cộng đồng thương hiệu đóng vai trò trung gian toàn phần của 3 trong 4 mối quan hệ trên. Từ đó mở ra những hàm ý cho DN để quản lí hiệu quả phương thức truyền thông này.
22195Gắn nâng cao năng suất, chất lượng với sự đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chịu ảnh hưởng bởi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cùng với áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, sử dụng hệ thống quản lý, công cụ cải tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng thì doanh nghiệp cũng cần đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đổi mới sáng tạo trong sản xuất là một trong những yêu cầu sống còn giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay.
22196Gắn thương hiệu năm sao với lòng hiếu khách
Cuộc phỏng ấn với ông Jan Peter Van Ree, Tổng giám đốc khách sạn Part Hyatt Saigon . Theo ông, lợi thế cạnh tranh của khách sạn bao gồm: 1. Thương hiệu, 2. Mạng lưới văn phòng đại diện; 3. Sự khác biệt.
22197Gắn văn hóa với phát triển du lịch ở Cao Nguyên Đá Đông Văn
Trình bày giá trị của công viên địa chất toàn cầu - cao nguyên đá đồng vân, cơ hội và thách thức, thực trạng gắn văn hóa với phát triển du lịch.
22198Gắn y học cổ truyền với du lịch để tạo sản phẩm độc đáo hậu Covid-19
Du lịch sức khỏe là gắn y học cổ truyền với du lịch được xem là một dòng sản phẩm chủ đạo, góp phần quan trọng vào việc phục hồi, thúc đầy du lịch bứt phá sau đại dịch. Đánh giá cao về loại hình độc đáo này, nhiều chuyên gia y học, doanh nghiệp dược liệu, lữ hành cho rằng khả năng phát triển thành một dòng sản phẩm du lịch, có tính cạnh tranh quốc tế là rất khả thi; đáp ứng nhu cầu du lịch chăm sóc sức khỏe đang ngày càng gia tăng.
22199Gánh nặng bệnh tật và chi phí điều trị của ngã bỏng và tai nạn giao thông ở trẻ em
Mô tả đặc điểm về gánh nặng bệnh tật và chi phí điều trị của ngã, bỏng và tai nạn giao thông ở 424 trẻ em. Phần lớn bệnh nhân bị ngã (66 phần trăm) và do tai nạn giao thông (22,4 phần trăm). Hầu hết bệnh nhân bị tổn thương ở mức độ nhẹ và các trường hợp do bỏng và tai nạn giaon thông thường có thương tổn nặng hơn. Tổng chi phí điều trị trung bình là 1.259.000 đồng, các chi phí trực tiếp chiếm 68,4 phần trăm trong tổng chi phí của một đợt điều trị.
22200Gánh nặng của người chăm sóc cho người bệnh parkinson điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá gánh nặng và xác định các yếu tố liên quan đến gánh nặng chăm sóc của người chăm sóc chính đối với người bệnh Parkinson điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng bộ công cụ Zarit burden interview(ZBI) điều tra trên 104 người chăm sóc chính trong thời gian từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025. Kết quả cho thấy, điểm trung bình gánh nặng chăm sóc theo thang đo Zarit là 44,0 điểm. Phân bố mức độ gánh nặng cho thấy tỷ lệ người chăm sóc có gánh nặng trung bình chiếm cao nhất (62,5%), tiếp theo là gánh nặng ít (20,2%), gánh nặng nhiều (13,5%) và không có gánh nặng (3,8%). Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với gánh nặng chăm sóc bao gồm: giai đoạn tiến triển của bệnh, sự hiện diện của bệnh mạn tính kèm theo và thời gian mắc bệnh (p<0,05). Ngoài ra, tình trạng sức khỏe thể chất tốt hơn, thu nhập cá nhân cao hơn và số lượng người cùng tham gia chăm sóc nhiều hơn có mối tương quan nghịch với mức độ gánh nặng chăm sóc (p<0,01). Ngược lại, thời gian dành cho chăm sóc người bệnh càng dài thì gánh nặng chăm sóc càng lớn (p<0,01). Kết luận: Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải có các can thiệp hỗ trợ toàn diện cho người chăm sóc, đặc biệt trong các trường hợp bệnh Parkinson tiến triển nặng và kéo dài.





