16871Đánh giá khả năng phân loại của hai chỉ thị rbcL và trnL với một số mẫu Bách bộ (Stemonaceae) thu tại phía Bắc Việt Nam
Phân tích, đánh giá khả năng phân loại của hai chỉ thị rbcL và trnL với một số mẫu Bách bộ (Stemonaceae) thu tại phía Bắc Việt Nam. Bách bộ là cây thuốc quý thuộc họ Bách bộ (Stemonacear), có tính ứng dụng cao trong đời sống. Các chiết xuất từ lá hay rễ của loài cây này chứa nhiều chất sinh học, có nhiều giá trị về mặ dược lý nên có giá trị kinh tế. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá và phân loại dựa trên chỉ thị DNA cho Bách bộ ở Việt Nam vẫn chưa được tiến hành nhiều. Ở nghiên cứu này, các tác giả thực hiện phân tích hai chỉ thị mã vạch DNA (DNA barcode) gồm rbcL và trnL để có những đánh giá ở mức độ phân tử cho 4 mẫu Bách bộ thu được từ vùng núi miền Bắc Việt Nam, đồng thời so sánh với các trình tự tương đồng trong họ Bách bộ đã được công bố trên Ngân hàng gen quốc tế (GenBank).
16872Đánh giá khả năng phân tích chính sách và dự báo của mô hình KEYNES mới : phương pháp tiếp cận SVAR VÀ BVAR-DSGE
Nghiên cứu khẳng định lại những công cụ chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đóng vai trò quan trọng nhằm hướng tới sự ổn định vĩ mô tại Việt Nam (Nguyễn Đức Trung, Lê Đình Hạc & Nguyễn Hoàng Chung, 2018). Từ đó, nghiên cứu ứng dụng mô hình Keynes mới SVAR đánh giá các cú sốc cấu trúc với kỳ vọng hợp lý của các chủ thể trong nền kinh tế mở và nhỏ (Nguyen Duc Trung, Le Dinh Hac & Nguyen Hoang Chung, 2019). Đồng thời, nghiên cứu này cũng cho thấy sự tương thích giữa dữ liệu thực tế và mô hình Keynes mới DSGE dự báo vĩ mô cho Việt Nam (Nguyễn Đức Trung & Nguyễn Hoàng Chung, 2017).
16873Đánh giá khả năng sinh tổng hợp Exopolysaccharide của vi khuẩn Bacillus sp. dưới ảnh hưởng điều kiện nhiệt độ và muối NaCl
Đánh giá khả năng tổng hợp EPS từ 3 dòng vi khuẩn Bacillus sp. BC1, BC2, BC3 thu từ đất trồng mè ở huyện Vĩnh Thanh – Tp. Cần Thơ, nuôi trong môi trường dinh dưỡng LB broth có bổ sung muối NaCl 0,25%; 0,5%; 1% ở 35oC, 45oC và 60oC, thời gian nuôi cấy 24,48 và 72 giờ.
16874Đánh giá khả năng sử dụng cát nhiễm mặn để đắp nền đường ô tô tại Việt Nam
Đánh giá khả năng sử dụng cát nhiễm mặn để đắp nền đường thông qua 3 mô hình thử nghiệm qui mô nhỏ ở trong bãi thử nghiệm.
16875Đánh giá khả năng sử dụng lưới địa kỹ thuật để gia cường mặt đường bê tông nhựa trong điều kiện Việt Nam
Một trong những giải pháp góp phần giải quyết tình trạng xuất hiện sớm các biến dạng, hư hỏng và kéo dài tuổi thọ của kết cấu áo đường là sử dụng lưới địa kỹ thuật để gia cường mặt đường bê tông nhựa. Công nghệ này đã được sử dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam, công nghệ này còn rất mới, mới chỉ bước đầu được thử nghiệm ở một số công trình. Bài báo phân tích khả năng và phạm vi áp dụng có hiệu quả công nghệ này trong điều kiện Việt Nam.
16876Đánh giá khả năng sử dụng màng cellulose do acetobacter xylinum tạo ra làm giá đỡ (scaffold) nuôi cấy tế bào fibroblast chuột nhắt trắng
Khảo sát một số đặc tính của màng cellulose do acetobacter xylinum tạo ra và khả năng sử dụng của màng cellulose làm giá đỡ nuôi cấy tế bào fibroblast thu được từ chuột nhắt trắng.
16877Đánh giá khả năng sử dụng phần mềm Plaxis trong phân tích ổn định nền đường sắt
Giới thiệu những phân tích so sánh hệ số ổn định xác định bằng Plaxis với hệ số ổn định xác định bằng phương pháp cân bằng giới hạn để đánh giá khả năng sử dụng phần mềm Plaxis trong phân tích ổn định mái dốc nền đường sắt.
16878Đánh giá khả năng sử dụng phần mềm Slope/W trong kiểm toán ổn định tường chắn sử dụng móng cọc
Giới thiệu những phân tích đánh giá về khả năng ứng dụng phần mềm Slope/W trong việc kiểm toán ổn định tường chắn móng cọc.
16879Đánh giá khả năng tái mã hóa nguyên bào sợi người thành tế bào giống tế bào gan bằng cách biểu hiện quá mức gen HNF4α nhờ hệ thống biểu hiện gen Tet-on
Nhằm khảo sát khả năng tái mã hóa thành tế bào nguyên bào sợi của người thành tế bào giống tế bào gan bằng biểu hiện quá mức HNF4α. Tế bào nguyên bào sợi được phân lập và nhân nuôi từ mô da bao quy đầu của bệnh nhân khỏe mạnh hiến tặng. Gen HNF4α được biểu hiện quá mức thông qua hoạt hóa bằng Doxycilin vector biểu hiện gen Tet.on-eGFP-HNF4α. Tế bào sau quá trình xử lý tái mã hóa được đánh giá sự thay đổi hình thái, biểu hiện các protein đặc trưng tế bào gan như: albumin, α-fetoprotein (AFP) và HNF4α sau khi nhuộm miễn dịch huỳnh quang và khả năng tích lỹ glycogen trong tế bào bằng phương pháp nhuộm PAS. Nghiên cứu đã phân lập và nhân nuôi thành công tế bào nguyên bào sợi.
16880Đánh giá khả năng tăng sinh của tế bào CAR-T khi đồng nuôi cấy với các dòng tế bào ung thư CD19 in vitro
Đánh giá khả năng tăng sinh của CAR - T khi đồng nuôi cấy với các dòng tế bào biểu hiện CD19+ in vitro. Đối tượng và phương pháp: Chuyển nạp gen vào tế bào K562 sử dụng hệ véc tơ Transposon - transposase kết hợp với xung điện. Tách tế bào PBMC và phân tích PBMC bằng flow cytometry. Chuyển nạp vào PBMC sử dụng dung dịch chuyển nạp P3 Primary Cells, 1 μg plasmid SB100X và 3 μg plasmid CD19RCD137/pSB. Đồng nuôi cấy CAR - T và tế bào CD19+ theo tỉ lệ 1:1. Kết quả: Trong 4 ngày nuôi cấy, CAR - T CD19RCD137 và CAR - T iCasp9 - IL15 đều có khả năng tăng sinh khi đồng nuôi cấy với các tế bào CD19+. Tuy nhiên, số lượng CAR - T CD19RCD137 có xu hướng giảm dần, nhưng CAR - T thế hệ 4 vẫn tăng về số lượng khi nuôi cấy với K562 không biểu hiện CD19. Ở ngày nuôi cấy 11, gần như không còn tế bào CAR - T CD19RCD137 và suy giảm đáng kể lượng tế bào CAR - T iCasp9 - IL15. Kết luận: Tế bào CAR - T có khả năng tăng sinh mạnh khi đồng nuôi cấy với các dòng tế bào CD19+ nhưng không có khả năng tăng sinh khi nuôi cấy cùng các dòng tế bào CD19.





