Kết quả tìm kiếm
Có 82651 kết quả được tìm thấy
10891Cấu trúc sở hữu và mức độ chấp nhận rủi ro: Trường hợp các công ty niêm yết Việt Nam

Bài báo này nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến mức độ chấp nhận rủi ro. Sử dụng dữ liệu gồm 577 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2007-2017, kết quả hồi quy cho thấy sở hữu nhà nước (nước ngoài) tác động nghịch chiều (thuận chiều) đến mức độ chấp nhận rủi ro. Kết quả này ủng hộ cho quan điểm sở hữu nhà nước có các mục tiêu khác ngoài tối đa hóa giá trị công ty đồng thời liên quan đến một cơ chế bồi thường kém, do đó hạn chế công ty tham gia vào các dự án rủi ro. Sở hữu nước ngoài thúc đẩy đa dạng hóa đầu tư và cải thiện quản trị công ty, dẫn đến công ty chấp nhận rủi ro nhiều hơn.

10892Cấu trúc sở hữu và ổn định hóa cổ tức: Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty phi tài chính niêm yết ở Việt Nam

Bài viết xác định ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến mức độ ổn định cổ tức của các doanh nghiệp. Với mẫu nghiên cứu là 336 công ty nêm yết tại Hose và HNX trong giai đoạn từ 2008 - 2018, bằng phương pháp hồi quy QLS và hồi quy 2 giai đoạn 2SLS, kết quả nghiên cứu cho thấy sở hữu Nhà Nước và sở hữu cổ đông lớn giải thích được hành vi ổn định hóa cổ tức ở Việt Nam.

10893Cấu trúc sở hữu và rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu về cấu trúc sở hữu có tác động đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại trong thời giaqn tới.

10894Cấu trúc sở hữu và tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam

Bài viết nghiên cứu đặt mục tiêu xác định xu hướng và đo lương mức độ tác động của tính tập trung sở hữu ( với hai thành phần sở hữu - nhà nước và nước ngoài) đến tỷ suất sinh lợi ROA, ROE tại các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) niêm yết Việt Nam.

10895Cấu trúc tác động của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Nghiên cứu xác định cấu trúc tác động của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực đến kết quả kinh doanh và được thực hiện tại 388 doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xử lí số liệu theo phương trình cân bằng cấu trúc cho thấy thực tiễn quản trị nguồn nhân lực tác động dương và giải thích được 73% kết quả quản trị nguồn nhân lực. Ba thành phần: Lương thưởng, đánh giá kết quả công việc - tạo cơ hội thăng tiến và quản trị thay đổi tác động đến kết quả kinh doanh thông qua tác động trực tiếp đến kết quả quản trị nguồn nhân lực. Các thành phần thiết kế công việc, tuyển dụng và đào tạo không có tác động đến cả kết quả quản trị nguồn nhân lực và kết quả kinh doanh. Quản trị nguồn nhân lực giải thích được 50% biến thiên trong kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Qua đó, nghiên cứu trình bày ứng dụng để hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực.

10896Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp may mặc tại Đà Nẵng: các nhân tố ảnh hưởng và khuyến nghị

Bài viết trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp may mặc tại Đà Nẵng.

10897Cấu trúc tài chính trong đảm bảo an ninh tài chính tại các công ty vận tải Việt Nam

10898Cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Nghệ An

Phân tích và đánh giá thực trạng cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ đó đưa ra một số gợi ý cho các doanh nghiệp về việc duy trì một cấu trúc tài chính hợp lý nhằm đạt được hiệu quả tài chính cao nhất.

10899Cấu trúc tham số của tính từ tiếng Việt

Nghiên cứu vấn đề xác định và miêu tả cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt. Giống như động từ, tính từ trong tiếng Việt có thể là hạt nhân của cấu trúc tham tố. Phần lớn tính từ trong tiếng Việt là vị từ đơn trị, một số tính từ là vị từ song trị.

10900Cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt

Giới thiệu chung về cấu trúc tham tố, cấu trúc tham tố tính từ; Miêu tả cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt; Đưa ra một số nhận xét bước đầu về cấu trúc tham số của tính từ tiếng Việt và góp thêm một tiếng nói, chứng minh cho sự gần gũi giữa tính từ với động từ trong tiếng Việt – hai từ loại mà nhiều nhà Việt ngữ học xếp chung một nhóm gọi là vị từ.