Hiện nay, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên đang trở thành những thách thức lớn đối với toàn cầu, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Trong bối cảnh này, kinh tế xanh đã nổi lên như một yếu tố then chốt, thúc đẩy phát triển bền vững, khuyến khích công nghệ sạch và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên. Quy hoạch điện VIII, được phê duyệt vào tháng 5 năm 2023, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển năng lượng của Việt Nam và được xem là một trong những chiến lược trọng yếu nhằm hiện thực hóa các mục tiêu bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bài viết đã tiến hành nghiên cứu tổng quan về kinh tế xanh và Quy hoạch điện VIII, cùng với việc phân tích các quy định pháp lý hiện có và vai trò của chúng trong việc thúc đẩy kinh tế xanh. Cuối cùng, bài viết đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Quy hoạch điện VIII, góp phần xây dựng một khung pháp lý linh hoạt và hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy kinh tế xanh, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.
Trên cơ sở nhận diện những yêu cầu mới đặt ra đối với nguồn nhân lực pháp luật – tư pháp, đặc biệt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, bài viết tập trung phân tích một cách hệ thống vai trò, tính cấp thiết, cơ sở chính trị cũng như thực trạng đào tạo đội ngũ cán bộ pháp luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bao gồm đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và cơ chế gắn kết giữa đào tạo với thực tiễn nghề nghiệp.
Công tác tổ chức thi hành pháp luật đóng vai trò then chốt trong bảo đảm pháp luật được áp dụng thống nhất, hiệu quả trên thực tế, là cầu nối giữa quá trình xây dựng pháp luật và đời sống xã hội. Việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi pháp luật không chỉ góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước mà còn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức thi hành pháp luật của một số quốc gia trên thế giới từ đó đưa ra những gợi mở cho Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Công tác xây dựng pháp luật giữ vai trò nền tảng trong việc định hướng và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia. Hệ thống pháp luật phải nhanh chóng, linh hoạt, kịp thời và thích ứng với công nghệ mới, đáp ứng được tính đa dạng và biến đổi không ngừng của thực tiễn chuyển đổi số. Bài viết phân tích thành tựu và những hạn chế, thách thức trong công tác xây dựng pháp luật của Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, từ đó, đề xuất một số giải pháp để đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp, cách thức xây dựng pháp luật để nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật phục vụ việc chuyển đổi số, góp phần tạo hành lang pháp lý thuận lợi, ổn định, bền vững cho đảm bảo quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên số.
Hiện nay, theo các nghị quyết của Đảng và hiến pháp năm 2013 đều xác định Toà án là cơ quan tư pháp, các cơ quan khác tham gia hoạt động tư pháp. Với vị trí trung tâm của hoạt động tư pháp như vậy, lựa chọn mô hình quản trị toà án nào để vừa giúp bảo đảm nguyên tắc toà án khi xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, vừa đảm bảo nền tư pháp liêm chính trở thành vấn đề rất cấp thiết. Trên thế giới hiện nay, Hội đồng Tư pháp Quốc gia đang dần trở thành một chế định khá phổ biến trong pháp luật của các quốc gia. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn của việc thành lập hội đồng tư pháp quốc gia dưới hai góc độ bảo đảm tính độc lập của Toà án và sự liêm chính của nền tư pháp nói chung, qua đó góp phần làm rõ bối cảnh và khả năng thành lập thiết chế này ở Việt Nam trong thời gian tới.
Trong dòng chảy tiến bộ của nhân loại, khi quyền con người và giá trị nhân văn ngày càng được đề cao, tính nhân đạo đã trở thành một nguyên tắc quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự hiện đại. Không chỉ là nguyên tắc pháp lý, đó còn là biểu hiện sinh động của lòng vị tha, sự khoan dung và khát vọng cảm hóa con người. Tư tưởng nhân đạo thúc đẩy việc đối xử công bằng, nhân ái với người phạm tội, hướng đến cải tạo và hồi sinh nhân cách thay vì trừng phạt thuần túy. Trên bình diện quốc tế, xu hướng nhân đạo hóa trong luật hình sự đang lan tỏa mạnh mẽ qua việc giảm nhẹ các hình phạt hà khắc, mở rộng các biện pháp thay thế giam giữ và tăng cường hỗ trợ tái hòa nhập. Tại Việt Nam, xu hướng này không chỉ phản ánh tinh thần cải cách pháp luật mà còn khẳng định chiều sâu truyền thống nhân văn của dân tộc. Bài viết sẽ làm rõ mối liên hệ giữa tính nhân đạo và xu hướng nhân đạo hóa - như một dòng tư tưởng nền tảng nuôi dưỡng sự tiến bộ của nền tư pháp hình sự hiện đại.
Bài viết này xem xét tác động của tín dụng thương mại đến tăng trưởng tài sản của các công ty phi tài chính niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2024, đồng thời phân tích vai trò điều tiết của ràng buộc tài chính đến tác động này. Phân tích dữ liệu bảng của 308 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết Việt Nam bằng phương pháp ước lượng khoảng khắc tổng quát hệ thống, kết quả chỉ ra rằng tín dụng thương mại có ảnh hưởng phi tuyến đến tăng trưởng tài sản công ty. Ngoài ra, rằng buộc tài chính có vai trò điều tiết quan trọng trong mối quan hệ này trong các doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ quan điểm tín dụng thương mại là công cụ tài trợ thay thế hiệu quả trong bối cảnh thị trường hạn chế tài chính. Các hàm ý chính sách được rút ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tín dụng thương mại và tăng cường tăng trưởng tài sản của các công ty Việt Nam.
Việc làm rõ những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (TNHS) giúp các cơ quan tư pháp có thẩm quyền phân định rõ ranh giới phân biệt giữa tội phạm - phải chịu TNHS và không phải là tội phạm - loại trừ TNHS, tạo cơ sở để các nhà làm luật xây dựng các chế định có liên quan trong Bộ luật Hình sự (BLHS), góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, tôn trọng và bảo vệ quyền con người và quyền công dân, phòng ngừa oan, sai, nhầm lẫn “pháp lý”. Vì vậy, trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê, bài viết đã đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, từ đó, chỉ ra các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong Luật Hình sự Việt Nam trong giai đoạn tới.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng thương mại Việt Nam thực hiện quản trị lợi nhuận qua trích lập DPRR tín dụng. Mức độ quản trị lợi nhuận cao hơn tại các ngân hàng có vốn sở hữu nhà nước hay trong giai đoạn đầu của việc triển khai áp dụng hiệp ước vốn Basel II. Trong khi đó, quy mô ngân hàng và việc niêm yết trên thị trường chứng khoán không có tác động đến hoạt động này tại các ngân hàng thương mại. Trên cơ sở đó, nghiên cứu gợi ý một số giải pháp cho cơ quan quản lý để hạn chế hoạt động này, nhằm yêu cầu các ngân hàng thương mại phản ánh đầy đủ rủi ro danh mục tín dụng, từ đó nâng cao năng lực quản trị rủi ro và giảm thiểu rủi ro cho hệ thống ngân hàng.
Chất lượng kiểm toán nội bộ được xem như một biến trung gian, làm rõ cơ chế tác động của các yếu tố này trong mô hình PLS-SEM với dữ liệu khảo sát từ 247 nhân sự. Kết quả cho thấy tất cả các yếu tố đều có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng kiểm toán nội bộ, và biến này có vai trò trung gian rõ nét trong việc nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro. Nghiên cứu góp phần khẳng định vai trò chiến lược của kiểm toán nội bộ trong môi trường logistics có mức độ rủi ro cao và cung cấp hàm ý thực tiễn cho công tác quản trị rủi ro tại doanh nghiệp.