CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đánh giá ảnh hưởng của thời gian và lực ly tâm tương đối đến số lượng và tỷ lệ thu hồi tiểu cầu trong điều chế huyết tương giàu tiểu cầu / Lê Thị Minh Hiền, Đỗ Thái Phượng, Nguyễn Đức Trường, Hứa Minh Tuân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 154 - 163 .- 610
Đánh giá ảnh hưởng của thời gian và lực ly tâm tương đối đến số lượng và tỷ lệ thu hồi tiểu cầu trong điều chế huyết tương giàu tiểu cầu. Phương pháp nghiên cứu: Ly tâm hai bước để điều chế PRP từ việc lấy mẫu máu của 100 sinh viên khoẻ mạnh có số lượng tiểu cầu ≥ 150G/l. Ly tâm bước 1 (ly tâm tách) với 4 phương án (mỗi phương án sử dụng 20 mẫu bệnh phẩm máu toàn phần, thể tích của mỗi mẫu dùng để ly tâm là 20ml), lực ly tâm lần lượt là 500g, 700g, 900g 1100g, thời gian ly tâm với mỗi lực trên là 05 phút. Sau ly tâm, lớp huyết tương phía trên được chuyển sang 1 ống trơn khác để ly tâm bước 2, còn phần hồng cầu bên dưới được loại bỏ. Ly tâm bước 2 (ly tâm ngưng tụ) theo 4 phương án sau (mỗi phương án sử dụng 20 mẫu huyết tương thu được sau ly tâm bước 1, thể tích mỗi mẫu là thể tích huyết tương thu được sau ly tâm bước 1) sử dụng các lực ly tâm lần lượt là 1000g trong 15 phút, 1500g trong 15 phút, 1000g trong 10 phút, 1500g trong 10 phút. Sau ly tâm, lớp huyết tương bên trên (huyết tương nghèo tiểu cầu) được loại bỏ, huyết tương giàu tiểu cầu ở bên dưới được tách sang ống vô trùng khác. Sau hai bước trên, chọn phương án ly tâm tối ưu (phương án 5 - sử dụng 20 mẫu bệnh phẩm mới) là lựa chọn lực ly tâm tương đối và thời gian cho kết quả số lượng trung bình tiểu cầu và tỷ lệ thu hồi cao nhất có được sau ly tâm bước 1, bước 2 của 4 phương án trên. Kết quả: Ly tâm bước 1 chúng tôi thấy phương án 3 (900g trong 5 phút) có số lượng và tỷ lệ thu hồi tiểu cầu cao nhất trong các phương án: số lượng tiểu cầu trung bình là 548,2 ± 65,85 G/l; tỷ lệ thu hồi tiểu cầu là 90,51±9,3%. Sau ly tâm bước 2, thu được số lượng và tỷ lệ thu hồi tiểu cầu cao nhất ở phương án 2 với kết quả là 973,8 ± 148,88 G/l và 82,43±7,14%. Các điều kiện ly tâm tách tối ưu được hình thành đưa vào phương án 5 và thu được kết qủa trước ly tâm số lượng trung bình tiểu cầu là 294,2± 45,44G/l. Ly tâm bước 1 (sử dụng 20 mẫu bệnh phẩm máu toàn phần, mỗi mẫu có thể tích 20ml) với lực ly tâm 900 g trong 5 phút thu được số lượng tiểu cầu trung bình là 541,75 ± 83,75 G/l, tỷ lệ thu hồi là 90,84 ± 3,43 %. Bước 2 (sử dụng 20 mẫu huyết tương thu được từ sau ly tâm bước 1, thể tích mỗi mẫu là thể tích huyết tương thu được sau ly tâm bước 1) với lực ly tâm 1500 g trong 15 phút, số lượng tiểu cầu trung bình là 1102 ± 114,81 G/l và tỷ lệ thu hồi tiểu cầu là 82,9 ± 4,43 %. Số lượng tiểu cầu thu được ở sản phẩm cuối cùng tăng lên khoảng 3,75 lần so với mẫu ban đầu. Kết luận: Qua nghiên cứu chúng tôi đưa ra được lực ly tâm tương đối và thời gian ly tâm tối ưu để điều chế PRP như sau: Bước 1 sử dụng lực ly tâm 900g trong 5 phút, bước 2 sử dụng lực ly tâm 1500 g trong 15 phút. Với ly tâm bước 1 thu được số lượng tiểu cầu trung bình là 541,75 ± 83,75 G/l, tỷ lệ thu hồi là 90,84 ± 3,43 %. Ly tâm bước 2 thu được số lượng tiểu cầu trung bình là 1102 ± 114,81 G/l, tỷ lệ thu hồi là 82,9 ± 4,43 %. Số lượng tiểu ở sản phẩm cuối cùng tăng lên khoảng 3,75 lần so với mẫu ban đầu.
2 Kết quả truyền khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho trên bệnh nhân phẫu thuật tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Lưu Thị Tố Uyên, Vi Quỳnh Hoa, Quách Chính Nghĩa, Nguyễn Hữu Tới, Trần Ngọc Quế // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 147 - 153 .- 610
Đánh giá kết quả truyền khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho trên bệnh nhân (BN) phẫu thuật tại bệnh viện hữu nghị (HN) Việt Đức. Đối tượng và phương pháp: 128 BN phẫu thuật được chỉ định khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho được nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc. Kết quả: Số BN chảy máu sau 1 giờ, 24 giờ truyền khối tiểu cầu (KTC) gạn tách giảm tương ứng từ 46,9% xuống 17,2%; 5,5%. Số lượng tiểu cầu sau truyền 1 giờ, 24 giờ lần lượt là: 117,41G/l; 99,66G/l tăng 53,55G/l và 35,80G/l so với trước truyền. Tỷ lệ BN có phản ứng sau truyền KTC gạn tách sốt, dị ứng là 0,78%; 3,1%. Kết luận: Sau truyền KTC gạn tách 1 giờ, 24 giờ: tình trạng chảy máu của BN giảm, số lượng tiểu cầu (SLTC) tăng trên 30G/l, tỷ lệ tai biến sau truyền thấp.
3 Nghiên cứu một số đặc điểm người bệnh được truyền máu tại bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2021 - 2023 / Nguyễn Văn Huyền, Trần Thu Hà, Vũ Minh Tâm, Phạm Mỹ Ánh, Phạm Quang Vinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 139 - 146 .- 610
Nghiên cứu đặc điểm của bệnh nhân được truyền máu cho chúng ta có một cái nhìn tổng quan về truyền máu, nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người bệnh, từ đó giúp cho việc dự trù và cấp phát máu kịp thời cho các chuyên khoa điều trị. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm và khảo sát đặc điểm phân bố của người bệnh được truyền máu tại Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2021 - 2023. Đối tượng: Gồm 37.928 bệnh nhân được truyền máu trong quá trình điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ 01/2021 đến ngày 12/2023. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang. Kết quả: tỷ lệ bệnh nhân nam 60,9% cao hơn nữ 39,1% và gặp nhiều nhất ở độ tuổi > 55 tuổi với tỷ lệ 60,2%. Tỷ lệ nhóm máu hệ ABO ở bệnh nhân truyền máu cao nhất nhóm máu O, thấp nhất nhóm máu AB, tiếp theo nhóm B cao hơn nhóm A, tỷ lệ bệnh nhân truyền máu từ 2-5 lần chiếm tỷ lệ cao nhất 45,3% và có xu hướng năm sau cao hơn năm trước. Tỷ lệ bệnh nhân truyền máu ở chuyên khoa nội chiếm 80,3% cao hơn nhiều so với nhóm bệnh nhân ngoại khoa chiếm 13,8%. Trong đó nhóm bệnh nội khoa gặp nhiều ở các khoa điều trị tiêu hóa với 18,3%, thận tiết niệu là 13,8%, tiếp theo là Huyết học với 11,3%, Cấp cứu 10,9%, Tim mạch 10,3%,. Nhóm bệnh ngoại khoa gặp tỷ lệ cao nhất ở khoa Gây mê hồi sức với 38,1%, tiếp theo là phẫu thuật tim mạch với 24,0%, ngoại tổng hợp 12,1%, chấn thương chỉnh hình và cột sống (CH&CS) với 11%.
4 Đánh giá tình hình cung cấp máu và chế phẩm máu cho bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm (2018-2022) / Hoàng Nhật Lệ, Đặng Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Nhất Quyên, Nguyễn Thị Thu Thủy, Đinh Văn Thể, Đoàn Thị Đức Hạnh, Nguyễn Hoàng Minh, Trần Ngọc Quế // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 132 - 138 .- 610
Đánh giá tình hình cung cấp máu và chế phẩm máu cho bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm (2018-2022). Đối tượng: 573.854 đơn vị máu và chế phẩm máu từ tháng 1 năm 2018 đến 31 tháng 12 năm 2022. Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang, hồi cứu Kết quả nghiên cứu: Trong 5 năm 2018- 2022 số lượng máu và chế phẩm máu cung cấp cho bệnh viện Bạch Mai là 573.854 đơn vị chiếm tỷ lệ 21,2%. Trong đó khối hồng cầu 227.376 đơn vị chiếm tỷ lệ 12,6%, khối tiểu cầu 85.376 đơn vị chiếm tỷ lệ 22%, huyết tương tươi 244.512 đơn vị chiếm tỷ lệ 38,1%, tủa lạnh yếu tố VIII 16.590 đơn vị chiếm tỷ lệ 16,4%. Tỷ lệ đáp ứng/dự trù cao nhất là huyết tương, khối hồng cầu, khối tiểu cầu lần lượt là 95,3%; 91,9% và 87,4%, thấp nhất là tủa lạnh yếu tố VIII tỷ lệ đáp ứng chỉ đạt 56,3%. Tỷ lệ đổi trả máu và chế phẩm máu cao nhất là khối tiểu cầu 17.007 đơn vị (tiểu cầu pool 9.912 đơn vị và tiểu cầu máy 7.095 đơn vị) và ít nhất là tủa lạnh yếu tố VIII 58 đơn vị. Tỷ lệ hủy chế phẩm máu cao nhất là huyết tương tươi năm 2018 là 1.140 đơn vị chiếm tỷ lệ 2,30% và thấp nhất năm 2022 là 114 đơn vị chiếm tỷ lệ 0,22%. Tỷ lệ vận chuyển cấp cứu máu và chế phẩm máu cao nhất năm 2022 là 2,2% và thấp nhất là 1,7% năm 2020.
5 Một số kết quả bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoàn thiện phiếu đăng ký hiến máu tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương năm 2020-2022 / Đỗ Hoài Biên, Lê Diệu Thúy, Trần Ngọc Quế, Trần Thị Diệp, Nguyễn Thị Hiền, Cao Xuân Hùng, Hà Hữu Nguyện // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 127-131 .- 610
Một số kết quả bước đầu trong hoàn thiện phiếu đăng ký hiến máu (PĐKHM) tại điểm hiến máu trong 3 năm (2020-2022). Đối tượng: 1.150.883 lượt người hiến máu do Viện tiếp nhận. Phương pháp: Cắt ngang, hồi cứu, chọn mẫu toàn bộ. Kết quả: Viện đã thực hiện hoàn thiện PĐKHM đạt 30,8% tăng dần từ 5,5% năm 2020 lên 32,1% năm 2021 và 51,1% năm 2022. Đa dạng các hình thức tiếp đón và tăng dần với năm 2022 tiếp đón qua App Hiến máu tăng gấp 7,4 lần năm 2020 và tương đương với năm 2021, qua Link Hiến máu tăng 9,2 lần năm 2021, qua giấy tờ tuỳ thân tăng 7,3 lần năm 2020 và 1,6 lần năm 2021. In PĐKHM hỗ trợ rút ngắn thời gian tiếp đón từ 4,63 phút xuống 2,18 phút trong mỗi lần tiếp đón. Cùng với việc cải thiện quy trình nhập và quản lý hồ sơ NHM, thời gian nhập mỗi hồ sơ giảm dần, giúp tăng số lượng nhập hồ sơ theo mỗi nhân viên và rút ngắn số ngày hoàn thiện hồ sơ theo điểm hiến máu từ 4,57 ngày xuống còn 2,7 ngày. Kết luận: Hoàn thiện PĐKHM được triển khai tăng dần hàng năm với đa dạng các ứng dụng hỗ trợ NHM đăng ký cũng như tiếp đón linh hoạt qua App, Link, giấy tờ tùy thân. Hiệu quả của hoàn thiện PĐKHM giúp giảm thời gian tiếp đón, rút ngắn thời gian nhập và trả kết quả cho NHM, hướng tới đảm bảo chất lượng đơn vị máu và sự hài lòng của NHM.
6 Thực trạng nhận thức của người hiến máu về giá trị, quản lý và sử dụng giấy chứng nhận hiến máu tình nguyện năm 2023 / Triệu Thị Biển, Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Duy Đông, Phạm Thị Thắm, Phạm Anh Tuấn, Trần Thị Huệ, Trịnh Lan Anh, Trần Ngọc Quế // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 119 - 126 .- 610
Khảo sát thực trạng nhận thức của người hiến máu về giá trị, quản lý và sử dụng giấy chứng nhận hiến máu tình nguyện tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương năm 2023. Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang có phân tích chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng ở 2.843 người hiến máu tình nguyện trong tháng 6, 7/2023. Kết quả: 17% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có nhận thức đầy đủ về giấy chứng nhận (GCN) hiến máu tình nguyện (HMTN), 83% có nhận thức chưa đầy đủ; Tuổi từ 18 – 35, là cán bộ/nhân viên, đã hiến máu ≥2 lần và hiến máu tại các điểm HMCĐ có tỷ lệ nhận thức đầy đủ cao hơn các nhóm còn lại (p<0,05). Kết luận: Nhận thức của người hiến máu về giá trị, quản lý và sử dụng GCN HMTN còn hạn chế; Các yếu tố độ tuổi, số lần hiến máu, nghề nghiệp, địa điểm hiến máu có ảnh hưởng đến mức độ nhận thức của người hiến máu.
7 Khảo sát kiến thức, thái độ về hiến máu tình nguyện của người tham gia hiến máu tại chương trình hiến máu Hành trình đỏ năm 2023 / Trần Ngọc Quế, Chử Nhất Hợp, Phạm Minh Hùng, Nguyễn Diệu Anh, Nguyễn Hà Thanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 113 - 118 .- 610
Khảo sát thực trạng kiến thức, thái độ và một số yếu tố liên quan về hiến máu tình nguyện của người tham gia hiến máu tại chương trình Hành Trình Đỏ năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Khảo sát cắt ngang thực hiện trên 1.155 người hiến máu tình nguyện, trong đó 50,3% là nam giới, 49,7% là nữ giới. Kết quả: Các kiến thức được trả lời chính xác cao: độ tuổi hiến máu 90,6%; cân nặng tham gia hiến máu 78,8%; thời gian hiến máu nhắc lại 72,9%. Thái độ ủng hộ người thân tham gia hiến máu đạt 99,6%; có ý định hiến máu nhắc lại đạt 99,5%. Lý do hiến máu để làm gương 37%, để được xét nghiệm, kiểm tra sức khỏe 27,8%. Kênh truyền thông được nhắc đến nhiều nhất là cơ quan, trường học 49,1%; mạng xã hội, facebook, tiktok…34,6%. Có mối tương quan thuận giữa giới tính với việc tiếp cận thông tin tại cơ quan, nhà trường; mong muốn hiến máu để làm gương. Kết luận: Kiến thức về hiến máu tình nguyện của người tham gia nghiên cứu ở mức độ tốt, họ có thái độ tích cực ủng hộ hoạt động hiến máu và người thân tham gia hiến máu. Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có lý do hiến máu phần lớn là để cứu người, bên cạnh đó là để được trở thành tấm gương, được xét nghiệm, kiểm tra sức khỏe. Các kênh tuyên truyền vận động mang lại hiệu quả và tiếp cận tốt nhất là cơ quan, trường học, mạng xã hội, facebook, tiktok.
8 Xác định tỷ lệ kiểu hình nhiễm viêm gan B tiềm ẩn ở người hiến máu tại bệnh viện Truyền máu Huyết học / Trần Thị Ngọc Hà, Nguyễn Phương Liên, Trần Khánh Linh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 192 - 200 .- 610
Xác định tỷ lệ kháng huyết thanh trong nhóm viêm gan B tiềm ẩn. Xác định tỷ lệ kiểu hình trong viêm gan B tiềm ẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 61 mẫu máu người hiến có kết quả xét nghiệm HBsAg âm tính và HBV-DNA dương tính. Nghiên cứu sử dụng phương pháp cắt ngang, thực hiện 5 xét nghiệm dấu ấn huyết thanh học: Anti-HBs, Anti-HBc, Anti-HBc IgM, HBeAg, Anti-HBe bằng kỹ thuật hóa phát quang và điện hóa phát quang. Kết quả: Dựa trên xét nghiệm anti-HBc và anti-HBs xác định nhóm OBI kháng huyết thanh âm tính với kiểu hình anti-HBc(-), anti-HBs (-) chiếm tỷ lệ 9,84%; Nhóm OBI kháng huyết thanh dương tính chiếm tỷ lệ 90,06% với 3 kiểu hình: Anti-HBc (+)/anti-HBs (-) chiếm tỷ lệ 45,9%; Anti-HBc (-)/anti-HBs (+) chiếm tỷ lệ 18,03%; Anti-HBc (+)/anti-HBs (+) chiếm tỷ lệ 26,23%. Xét nghiệm 5 dấu ấn huyết thanh học anti-HBc, anti-HBc IgM, anti-HBs, HBeAg, anti- HBe trên những người nhiễm viêm gan B tiềm ẩn giúp phân loại được 7 kiểu hình trong đó kiểu hình thuộc giai đoạn cửa sổ trong nhiễm HBV cấp tính chiếm tỷ lệ 9,84%. Kiểu hình thuộc giai đoạn cấp tính muộn hay giai đoạn hồi phục sớm chiếm tỷ lệ 4,92%. Còn lại là các kiểu hình nhiễm OBI với giai đoạn mạn tính. Kết luận: Nhóm viêm gan B tiềm ẩn kháng huyết thanh âm tính chiếm tỷ lệ chỉ bằng 1/10 nhóm kháng huyết thanh dương tính và hơn 80% tỷ lệ kiểu hình nhiễm viêm gan B tiềm ẩn thuộc giai đoạn mạn tính.
9 Nhân một trường hợp bạch cầu cấp dòng tiền tủy bào phát hiện sau điều trị bạch cầu mạn dòng tủy BCR/ABL dương / Phan Văn Hiếu, Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Lê Thanh Chang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 520 - 526 .- 610
Bạch cầu cấp dòng tiền tủy bào (APL) là một dạng bạch cầu cấp đặc biệt, liên quan đến sự chuyển vị giữa nhiễm sắc thể (NST) 15 và 17, tạo ra tổ hợp gen PML-RARA. APL là một trong những dạng bạch cầu cấp nguy hiểm nhất do tình trạng rối loạn đông máu gây ra, nhưng có thể được điều trị hiệu quả bằng all-trans-retinoic acid (ATRA) và arsenic trioxide (ATO). Bạch cầu mạn dòng tủy (CML) là bệnh lý tăng sinh tủy mạn tính liên quan đến sự hiện diện của NST Philadelphia (NST Ph+), kết quả từ sự chuyển vị giữa NST 9 và 22, tạo ra tổ hợp gen BCR-ABL1. Điều trị CML chủ yếu dựa vào các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI). Tuy nhiên sự tiến triển CML Ph+ thành APL là rất hiếm. Trong bài này chúng tôi báo cáo trường hợp người bệnh nam 24 tuổi được chẩn đoán CML Ph+ vào năm 2010 được điều trị bằng imatinib. Sau 14 năm, người bệnh chuyển thành APL với các đột biến đồng thời BCR-ABL1 và PML-RARA, qua đây chúng tôi muốn thảo luận thêm về chẩn đoán và điều trị cho trường hợp bệnh hiếm này.
10 Đánh giá vai trò của xét nghiệm hoạt độ Adamts13 trong bệnh ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối tại bệnh viện Truyền máu Huyết học / Nguyễn Ngọc Sang, Trần Hồng Trúc, Phạm Thanh Thủy Hồng, Phạm Thị Tuyết Minh, Nguyễn Thị Kim Ngân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 510 - 519 .- 610
Mô tả đặc điểm của mẫu nghiên cứu. Xác định mối liên quan giữa xét nghiệm ADAMTS13 với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng. Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán âm, giá trị tiên đoán dương của xét nghiệm hoạt độ ADAMTS13 trong chẩn đoán TTP. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca, hồi cứu trên tất cả người bệnh nội trú được chỉ định xét nghiệm hoạt độ ADAMTS13 tại bệnh viện Truyền máu Huyết học từ năm 2019-2023. Kết quả: Nghiên cứu thực hiện trên 127 người bệnh, tỉ lệ người bệnh có giảm hoạt độ ADAMTS13<10% là 46,5%. Nghiên cứu cho thấy khi có càng nhiều triệu chứng của ngũ chứng thì tỉ lệ người bệnh có hoạt độ ADAMTS13<10% càng tăng. Tất cả người bệnh có hoạt độ ADAMTS13<10% đều có điểm PLASMIC ≥5 điểm. Sự tăng tỉ lệ hồng cầu lưới, tăng mảnh vỡ hồng cầu, giảm Haptoglobin, tăng LDH, và giảm PLT có liên quan với sự giảm hoạt độ ADAMTS13. Tại mức ADAMTS13<10% xét nghiệm có độ nhạy là 92,5%, độ đặc hiệu là 74,4%, giá trị tiên đoán dương là 62,7%, giá trị tiên đoán âm là 95,6% trong chẩn đoán TTP. Kết luận: Việc chỉ định xét nghiệm hoạt độ ADAMTS13 ở những người bệnh nghi ngờ TTP là rất cần thiết để xác định chẩn đoán và đưa ra những quyết định điều trị phù hợp nhất cho người bệnh.