Typhonium rhizomatosum A.Galloway & P.Schmidt is reported here as a new record to the flora of Vietnam. It is described and illustrated with detailed photographs of key morphological characters. Besides, the sequences of matK and trnL-F regions were also successfully sequenced to confirm its identity.
Bài viết nghiên cứu mối quan hệ giữa chuyển đổi số ngành ngân hàng với nợ xấu của các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn 2013-2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy chuyển đổi số góp phần làm giảm tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng. Kết quả nghiên cứu là nền tảng giúp các NHTM có thêm động lực để tăng cường chuyển đổi số trong thời gian tới. Bài viết cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp các NHTM Việt Nam đầy mạnh việc chuyển đổi số trong tương lai.
Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM) được đo lường và đánh giá theo nhiều cách khác nhau. Tại nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis DEA) và phương pháp ước lượng năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP) qua chỉ số Malmquist để phân tích hiệu quả kinh doanh của các NHTM có vốn Nhà nước. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2022, hiệu quả kỹ thuật của 4 NHTM có nhiều biến động, đạt hiệu quả kỹ thuật tối ưu trong nhiều năm; xét riêng cho từng ngân hàng thì hầu hết hiệu quả tăng theo qui mô, nhưng xét chung cho cả nhóm NHTM và trong thời gian dài thì hiệu quả lại không đổi theo qui mô. Kết quả chỉ tiêu năng suất hiệu quả toàn bộ chỉ ra hiệu quả kinh doanh của các NHTM Nhà nước gia tăng nhờ tác động nhiều của sự thay đổi công nghệ.
Bài viết tập trung nghiên cứu thực trạng vấn đề tối ưu hóa các hoạt động trong các doanh nghiệp thương mại điện từ (B2C) dựa trên Big Data và đề xuất các phương pháp ứng dụng Big Data cho các hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp thương mại điện tử tại Việt Nam.
Bài viết này nhằm phân tích vai trò tạo việc làm của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNW), những đặc điểm của các DNNVV và những khó khăn, vướng mắc đang gặp phải; từ đó, gợi mở các giải pháp góp phần phát triển các DNNV trong thời gian tới.
Bài báo nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao năng lực tài chính (NLTC) của công ty chứng khoán (CTCK) ở Nhật Bản và Hàn Quốc, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc nâng cao NLTC của các CTCK Việt Nam. Bằng cách sử dụng các phương pháp: Phương pháp tổng hợp; Phương pháp thống kê, mô tả và so sánh; Phương pháp phân tích; Phương pháp quy nạp và diễn giải, tác giả đã rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc nâng cao NLTC của các CTCK của Việt Nam như: Xác định quy mô công ty là một nhân tố quan trọng nhất tác động đến năng lực tài chính của CTCK. Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là cơ sở để nâng cao năng lực tài chính. Năng lực tài chính của CTCK được nâng cao thông qua hoạt động mua bán sáp nhập, hợp nhất. Để đánh giá năng lực tài chính của CTCK cần xem xét mỗi tương quan nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.
Bài viết tìm hiểu một cách tổng quan nhất về mối quan hệ giữa biến động ngắn hạn và tăng trưởng kinh tế. Đầu tiên tìm hiểu cơ sở lí thuyết, khái niệm và các thước đo biến động ngắn hạn, các quan điểm và thực trạng mối quan hệ này trên thế giới. Sau đó, bài viết trình bày tóm tắt các mô hình nghiên cứu thực nghiệm khi nghiên cứu mối quan hệ giữa biến động ngắn hạn và tăng truởng kinh tế tại các nước trên thế giới và Việt Nam. Cuối cùng, bài viết tóm tắt các kết quả nghiên cứu thục nghiệm và rút ra các bài học kinh nghiệm trong việc nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.
Hướng tới phát triển du lịch bền vững, các quốc gia bước đầu có những phương án, kế hoạch phát triển khác nhau làm nền tảng. Để tìm ra được những nền tảng ban đầu phục vụ mục tiêu lâu dài là phát triển du lịch bền vững, mỗi vùng, lãnh thổ, quốc gia phải bám sát đặc điểm tự nhiên, dân cư của mình để đưa ra phương án phù hợp. Có rất nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ đã có phương án, giải pháp để duy trì phát triển du lịch tại các điểm du lịch thuộc phạm vi quản lý của mình. Trong nghiên cứu này tác giả đã tìm hiểu ở bốn điểm du lịch trong và ngoài nước để tìm hiểu về cách thức thực hiện. Mỗi vùng, quốc gia có những đặc điểm khác nhau, nhưng đều có chung một mục tiêu là phát triển du lịch và gắn với phát triển bền vững.
Trên thế giới không có mô hình chuẩn nào về chính sách thuế bất động sản (BĐS). Tại từng giai đoạn phát triển cụ thể mà mỗi quốc gia có một chính sách thuế BĐS phù hợp. Để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi theo hướng kinh tế thị trường, việc hoàn thiện chính sách về thuế đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là rất cần thiết. Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi, việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách thuế BĐS là một đòi hỏi tất yếu, mà một trong những cơ sở quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách này đó là tham khảo, học hỏi kinh nghiệm ở các quốc gia khác.