CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Rủi ro an ninh mạng đối với lĩnh vực kế toán trong bối cảnh chuyển đổi số / Nguyễn Thị Thu Hằng // .- 2023 .- Số 813 - Tháng 11 .- Tr. 109 - 111 .- 332
An toàn thông tin và an ninh mạng trong lĩnh vực tài chính nói chung và kế toán nói riêng đang trở thành vấn đề được nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu quan tâm trước sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ số, đặc biệt là việc ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào đời sống kinh tế - xã hội. Thực tế cho thấy, với các rủi ro đang trở nên hiện hữu hơn trước yêu cầu đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, tạo lập lòng tin, sự yên tâm và bảo vệ quyền lợi của người sử dụng dịch vụ tài chính, kế toán cũng như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp thì vấn đề bảo đảm an ninh mạng trong lĩnh vực kế toán càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
2 Phát triển bền vững kế toán xanh ở Việt Nam / Hoàng Đình Hương // .- 2023 .- Số 813 - Tháng 11 .- Tr. 115 - 117 .- 657
Phát triển bền vững đang trở thành xu hướng chung trên thế giới. Theo các nghiên cứu trên thế giới, kế toán xanh được coi là một công cụ quan trọng, là hướng chuyển đổi theo phương thức phát triển bền vững, hướng tới phát triển nền kinh tế xanh. Trong bối cảnh đó, việc phát triển và ứng dụng kế toán xanh trở thành nhu cầu tất yếu đối với các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, vận dụng kế toán xanh thế nào để đạt hiệu quả là vấn đề đặt ra hiện nay.
3 Vai trò của các hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán trong giải quyết thiếu hụt nhân lực kế toán tài chính khu vực công / Trần Khánh Lâm // .- 2023 .- Số 813 - Tháng 11 .- Tr. 118 - 122 .- 657
Bài nghiên cứu này nhằm khám phá vai trò của các hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán trong việc giải quyết vấn đề thiếu hụt nhân lực kế toán, tài chính cho khu vực công. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu từ các tổ chức chính phủ, hội nghề nghiệp và những người làm việc trong lĩnh vực kế toàn, tài chính.
4 Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ngành kế toán đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số / Nguyễn Thị Minh Thanh, Nguyễn Thị Thanh Thắm // .- 2023 .- Số 813 - Tháng 11 .- Tr. 123 - 125 .- 658
Chuyển đổi số là quá trình áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và phục vụ của các doanh nghiệp và tổ chức nhằm tăng năng suất, hiệu quả và cạnh tranh. Kế toán là một ngành có vai trò then chốt trong việc cung cấp thông tin tài chính, kiểm soát chi phí, quản lý thuế và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác của các doanh nghiệp và tổ chức. Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ngành Kế toán đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số là hết sức cần thiết.
5 Kinh nghiệm áp dụng chính sách thuế nhằm hạn chế sản xuất và tiêu dùng các hàng hoá gây ô nhiễm môi trường / Phạm Thị Thu Hồng // .- 2023 .- Số 813 - Tháng 11 .- Tr. 126 - 128 .- 332
Chính sách thuế nhằm thúc đẩy doanh nghiệp và người tiêu dùng hướng tới phát triển bền vững ở các quốc gia khá đa dạng đến môi trường (nguồn năng lượng/sản phẩm năng lượng, phương tiện giao thông, hàm lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường, tài nguyên thiên nhiên…). Bên cạnh đó, chính sách thuế hướng tới phát triển bền vững cũng được áp dụng ở nhiều giai đoạn khác nhau, từ khâu khai thác tài nguyên thiên nhiên, khâu sản xuất/nhập khẩu, khâu bán hàng cho đến việc sử dụng nguồn năng lượng/sản phẩm năng lượng và giai đoạn tiêu dùng cuối cùng.
6 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý thuế liên quan đến các giao dịch tiền kỹ thuật số / Nguyễn Thị Liên Hoa, Nguyễn Ngọc Định // .- 2023 .- Số 813 - Tháng 11 .- Tr. 129 - 132 .- 332
Bài viết này khái quát các vấn đề trốn thuế phát sinh từ tính bảo mật tuyệt đối của công nghệ Blockchain và cách thức kiểm soát thuế liên quan đến những giao dịch tiền kỹ thuật số ở một số quốc gia và bài học cho Việt Nam.
7 Chính sách tiền tệ phi truyền thống của Mỹ và những tác động đến nền kinh tế Việt Nam / Ngô Sỹ Nam // .- 2023 .- Số 813 - Tháng 11 .- Tr. 133 - 136 .- 332
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu phân tích những tín hiệu của nền kinh tế Việt Nam, tập trung vào các chỉ tiêu như tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất ngắn hạn khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ thực thi chính sách tiền tệ phi truyền trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng đại dịch COVID-19. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự tương quan dương giữa tổng tài sản của Cục Dự trữ liên bang Mỹ và dòng vốn với chỉ tiêu tăng trưởng GDP, lạm phát của Việt Nam. Ngoài ra, lãi suất ngắn hạn thay thế của Cục Dự trữ liên bang Mỹ, chỉ số đo lường rủi ro VIX có tương quan âm với tăng trưởng GDP và lạm phát.
8 Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ trong quản lý rủi ro thuế trên cơ sở tiếp cận khung lý thuyết nền / Phạm Quang Huy, Đặng Vinh Quang // .- 2023 .- Số 242 - Tháng 11 .- Tr. 78-83 .- 657
Bằng phương pháp tổng hợp các công bố, mục tiêu chính của bài viết này là cung cấp khung lý luận do COSO ban hành về KSNB trong quan hệ với khía cạnh thuế và mối quan hệ với hai lý thuyết nền sử dụng chính cho những công bố đó.
9 Nghiên cứu ảnh hưởng của quản lý thanh khoản đến hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam trong bối cảnh Covid-19 / Cao Thị Nhiên // .- 2023 .- Số 242 - Tháng 11 .- Tr. 84-90 .- 658
Chỉ ra mối quan hệ giữa việc quản lý khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh của DN. Nghiên cứu thực hiện hồi quy dữ liệu với 03 Mô hình OLS, FEM, REM, GLS cho thấy rằng, hiệu quả kinh doanh (ROA, ROE) bị tác động thuận chiều bởi quy mô DN (SIZE), hệ số khả năng thanh toán nhanh (TTN) và hệ số khả năng thanh toán tức thời (TTT) và bị tác động ngược chiều bởi tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (LEV), hệ số khả năng thanh toán tổng quát (TQ) và hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (NNH).
10 Nghiên cứu tác động của vốn trí tuệ đến hiệu quả tài chính tại các công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Vũ Lê Lam // .- 2023 .- Số 242 - Tháng 11 .- Tr. 96-103 .- 332.1
Nghiên cứu, xem xét tác động của vốn trí tuệ tới hiệu quả tài chính (HQTC) của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu, được tập hợp từ 62 công ty trong giai đoạn 2018 đến 2022, với 310 quan sát. Vốn trí tuệ được đo lường theo Mô hình Hệ số giá trị tăng thêm (VAIC). HQTC được đo lường theo Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và Tỷ số giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường (MB). Kết quả ghi nhận, tác động cùng chiều vốn trí tuệ tới chỉ số HQTC và có thể coi là chìa khóa trong việc mang lại thành công cho doanh nghiệp (DN).