Nghiên cứu biện pháp tu từ nghịch ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử trên phương diện cấu tạo và giá trị. Nghịch ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử có ba kiểu cấu tạo là: cặp từ, cặp cụm từ và mệnh đề. Nhà thơ sử dụng nghịch ngữ để biểu đạt những mâu thuẫn, nghịch lí của cuộc sống con người, đồng thời thể hiện những suy tư cá nhân về cuộc đời và bản thể. Nghịch ngữ thể hiện một chân dung Hàn Mặc Tử với tâm hồn yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, là người có khát vọng sống mãnh liệt.
Câu trúc chủ - vị trong tiếng Khmer là một đề tài tương đối mới trong việc nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam. Cấu trúc chủ - vị gồm hai thành phần: chủ ngữ và vị ngữ. Chúng là hai thành phần chính tạo nên nòng cốt câu và hình thành nhiều loại câu khác nhau xét theo câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp như câu đơn, câu ghép và câu phức. Câu tiếng Khmer có nhiều loại câu khác nhau nhưng giữa các câu có điểm chung là được tạo nên từ cụm chủ - vị. Điều đáng chú ý là, cấu trúc chủ - vị trong tiếng Khmer có những điểm tương đồng với cấu trúc chủ - vị trong tiếng Việt.
Trình bày nghiên cứu về nét tương đồng và khác biệt về phương diện ngữ nghĩa của một số thành ngữ so sánh tiếng Anh và tiếng Việt thông qua phương pháp liệt kê, so sánh đối chiếu và tổng hợp các dữ liệu. Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu về các thành ngữ này, người học ngoại ngữ phần nào nắm được một số đặc điểm khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa giữa hai nước Anh - Việt, để hỗ trợ việc học tiếng Anh và vận dụng đúng các thành ngữ này trong giao tiếp.
Nhiều nghiên cứu trước đây thường có xu hướng tách biệt từ mượn tiếng Anh ra khỏi ngữ cảnh tiếng Hán và bỏ qua thực tế là nhóm từ vay mượn này không chỉ tồn tại độc lập, riêng lẻ mà chúng đã được chuyển đổi và điều chỉnh để phù hợp với đặc trưng ngữ pháp tiếng Hán. Điều này cũng có nghĩa là, tiếng Hán không chỉ tiếp nhận từ mượn tiếng Anh một cách thụ động mà qua đó đã hình thành nên các phương thức cấu tạo từ mới bằng cách phát triển kho hình vị phong phú từ tiếng Anh. Và như vậy, tiếng Anh không chỉ đóng góp một số lượng từ ngữ đáng kể vào vốn từ vựng tiếng Hán, mà còn đem lại những thay đổi nhất định ở cấp độ hình thái học. Dựa trên những dữ liệu thu thập được, bài viết phân tích một cách hệ thống những biến đổi hình thái học của từ vựng tiếng Hán trong quá trình tiếp xúc sâu rộng và lâu dài với tiếng Anh.
Mục đích của bài báo này là khảo sát, nghiên cứu các dấu hiệu tình thái nhận thức được sinh viên đại học sử dụng trong bài viết nghị luận tiếng Anh. Dữ liệu cho nghiên cứu được thu thập từ 75 bài luận do sinh viên tham gia viết. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên sử dụng nhiều nhất các phương tiện tình thái nhận thức ở mức độ chắc chắn thấp. Các phương tiện ngôn ngữ mà sinh viên sử dụng để biểu đạt ý nghĩa tình thái nhận thức chưa thật sự đa dạng, chủ yếu tập trung vào động từ khuyết thiếu. Từ kết quả trên, bài báo đưa ra một vài gợi ý về việc giảng dạy cách dùng tình thái nhận thức cho người học.
Ngôn ngữ là của riêng loài người, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người. Theo đó, ngôn ngữ tham gia vào mọi hoạt động của đời sống con người. Vì thế, ngôn ngữ không chỉ là mối quan tâm của ngôn ngữ học mà là mối quan tâm của mọi ngành khoa học, từ khoa học xã hội, khoa học nhân văn đến khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ. Ngôn ngữ gắn liền với đời sống của mỗi dân tộc, quốc gia, vì thế, nghiên cứu ngôn ngữ ở các quốc gia không thể như nhau bởi chúng chịu tác động của các nhân tố như: tình hình chính trị-xã hội của mỗi quốc gia, tình hình ngôn ngữ của mỗi quốc gia, văn hóa và truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc, quốc gia, khoa học và truyền thống khoa học của mỗi quốc gia, v.v. Đây là lí do của việc tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu ngôn ngữ.
Trình bày kết quả một giả thiết về sự thay đổi địa lí ngôn ngữ ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa trong góc nhìn tham chiếu với lịch sử ngôn ngữ người Việt. Theo đó, vùng địa lí ban đầu của cư dân nói ngôn ngữ người Việt ở giai đoạn tiền Việt tương ứng với vùng lãnh thổ của cư dân văn hóa Đông Sơn được xác định ở Việt Nam. Do đó, những nhóm cư dân nói những ngôn ngữ không phải Nam Á hiện đang định cư ở đây được cho là những nhóm cư dân từ những vùng lãnh thổ khác nhau di cư đến sinh sống cho đến hiện nay.
Tập trung giới thiệu các kết quả nghiên cứu nổi bật liên quan đến vai trò của sự hiện thân trong học tập và xử lí ngôn ngữ thứ 2 xét từ viễn quan nhận thức thần kinh, được thực hiện bởi nhiều nhà khoa học, nổi bật là Ana Zappa and Cheryl Frenck-Mestre (2024).
Bài báo nghiên cứu nghĩa biểu hiện của hình ảnh trực quan trong diễn ngôn quảng cáo du lịch bang California trên các trang điện tử chính thống tiếng Anh của Mỹ từ lí thuyết phân tích diễn ngôn đa phương thức. Diễn ngôn quảng cáo du lịch cung cấp thông tin cho du khách và thuyết phục khách du lịch tiềm năng lựa chọn điểm đến du lịch. Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, việc giao tiếp được thực hiện thông qua nhiều phương thức thay vì một phương thức, trong đó các yếu tố ngôn từ, hình ảnh, âm nhạc, âm thanh và màu sắc...đều là những nguồn tạo nghĩa.
Bài viết này nghiên cứu, khảo sát về một cách ý niệm hoá tình yêu của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, cụ thể là cách ý niệm hoá tình yêu của qua hình tượng sợi tơ: xây dựng mô hình ẩn dụ ý niệm “tình yêu là sợi tơ”; chỉ ra được 32 biểu thức có chứa ẩn dụ ý niệm này và lí giải cách cách ý niệm hoá tình yêu trong đó. Qua đó, có thể thấy được các thuộc tính được chiếu xạ từ miền nguồn sợi tơ đến miền đích tình yêu được Nguyễn Du tạo dựng rất phong phú và đa dạng; cũng thể hiện sự tài tình của Nguyễn Du trong việc vận dụng những hình ảnh quen thuộc trong ca dao người Việt xưa (như sợi tơ) vào sáng tác của mình.