Thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động tại Hoa Kỳ xuất hiện từ rất sớm trên cơ sở tiếp cận hợp lí từ các thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại của Vương quốc Anh. Hiện nay, tại Hoa Kỳ thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động được điều chỉnh bằng đạo luật của các bang và đặc biệt là án lệ của toà án. Theo án lệ của toà án, thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động được sẽ được công nhận dựa trên ba tiêu chí chính đó là: 1) thoả thuận đã được thương lượng giữa người sử dụng lao động và người lao động; 2) người sử dụng lao động có lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ bởi thoả thuận hạn chế cạnh tranh; 3) nội dung của thoả thuận có tính hợp lí. Trên cơ sở phân tích các tiêu chí này qua một số án lệ của toà án Hoa Kỳ, bài viết gợi mở một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng khung pháp lí điều chỉnh về thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động.
Bài viết nhằm làm rõ nội hàm các cam kết về dịch vụ pháp lí trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để từ đó có giải pháp nghiên cứu, góp phần thực hiện có hiệu quả các cam kết đó tại Việt Nam. Theo đó, bài viết tập trung vào: 1) Quy định chung của pháp luật về dịch vụ pháp lí quốc tế mà Việt Nam phải tuân theo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; 2) Cam kết chủ yếu của Việt Nam về dịch vụ pháp lí quốc tế trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; 3) Một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam để thực hiện có hiệu quả các cam kết về dịch vụ pháp lí.
Tập trung tìm hiểu về hai vị từ tư thế “nằm” và “quỳ” đặt trong hệ thống nhóm từ chỉ tư thế để nghiên cứu trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học. Kết quả nghiên cứu của bài viết nhằm đưa ra một cái nhìm khái quát và toàn diện hơn về hai từ này nói riêng và nhóm từ chỉ tư thế nói chung.
Trình bày kết quả nghiên cứu về tác dụng của việc giảng dạy Đề ngữ theo cách tiếp cận ngữ pháp chức năng hệ thống đối với kỹ năng viết văn tự sự bằng tiếng Anh của sinh viên tại một số trường Đại học ở Việt Nam.
Thống kê, miêu tả đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa của các thành tố có thành tố “打” (đá) trong tiếng Hán vá các thành ngữ có thành tố “đánh” trong tiếng Việt. Từ đó đối chiếu, chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa chúng.
Nghiên cứu so sánh bài luận tiếng Anh và tiếng Việt của cùng một sinh viên học tiếng Anh như một ngoại ngữ, viết về cùng chủ đề, ở hai thời điểm khác nhau để làm sáng tỏ các đặc điểm về ngôn ngữ đánh giá biểu thị thái độ trong các bài viết theo lý thuyết đánh giá, nhằm giúp sinh viên phát triển năng lực ngôn ngữ này một cách chính xác và thẩm mĩ cao hơn.
Nghiên cứu một số nội dung về lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận và ngữ pháp kết cấu vào phân tích, miểu tả các đặc điểm tri nhận qua hai tham tố mệnh lệnh: tham thể và biểu lực của kết cấu mệnh lệnh let/lets qua cứ liệu được thu thập và thống kê từ một vài tác phầm văn học đại chúng Anh – Mỹ tiêu biểu.
Nghiên cứu này tập trung làm rõ các dấu ấn văn hóa Huế trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Khoa Điềm. Bằng phương pháp khảo cứu, phân tích văn bản, nghiên cứu chỉ rõ ngôn ngữ dưới sự soi chiếu của văn hóa Huế là chất liệu để nhà thơ sáng tạo nghệ thuật.
Khảo sát về danh xưng Bani trong tiếng Chăm hiện nay. Qua so sánh với các ngôn ngữ khác. Bài viết cho thấy sự biến đổi nghĩa và cách dùng của danh xưng Bani trong tiếng Chăm đã có thay đổi so với nguyên gốc.
Nghiên cứu trường hợp về cách thức biểu hiện bức xúc trong công việc tại nơi làm việc của người Mỹ và người Việt. Nghiên cứu phân tích và thảo luận phản hồi cụ thể của 10 nghiệm thể Mỹ và 10 nghiệm thể Việt để tìm ra câu trả lời cho giả thuyết của chúng tôi là “nhân viên người Mỹ có khuynh hướng phản ứng trực tiếp và bình đẳng hơn so với nhân viên người Việt Nam trong thể hiện sự bức xúc với cấp trên tại nơi làm việc”.