CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đánh giá bước đầu phẫu thuật đoạn chậu trong ung thư phụ khoa initial  / Nguyễn Duy Thư, Nguyễn Văn Tiến, Phan Viết Việt Bảo, Nguyễn Hoàng Duy Thanh, Trần Quang Kiên, Nguyễn Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Ngọc Yến // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 287 - 298 .- 610
Đoạn chậu (PE) được chỉ định trong các trường hợp ung thư vùng chậu tái phát, tiến triển không đáp ứng với hóa xạ trị hoặc phẫu thuật giảm nhẹ. Mặc dù phẫu thuật có tỷ lệ biến chứng cao nhưng lại là phương pháp điều trị duy nhất còn hiệu quả. Phương pháp: Hồi cứu mô tả những bệnh nhân trải qua PE từ tháng 10 năm 2022 đến nay tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Kết quả: 48 bệnh nhân được phẫu thuật do ung thư phụ khoa tái phát, rò sau điều trị hoặc được chẩn đoán ngay từ đầu với tỷ lệ bệnh lần lượt là 36 (75%), 6 (12.5%) và 6 (12.5%). Đo ạn chậu toàn phần là 28 trường hợp (58%), đoạn chậu trước là 8 trường hợp (16%) và sau là 12 trường hợp (25%). Theo phân loại Clavien Dindo biến chứng sớm mức độ II và III lần lượt xảy ra ở 43.8% và 31.2%. Không có trường hợp tử vong nào được quan sát trong vòng 30 ngày. Biến chứng muộn sau 30 ngày có 15 bệnh nhân (31.2%) trong đó biến chứng về niệu chiếm phần đa số . Kết luận: Đoạn chậu là cơ hội cuối cùng ở những bệnh nhân có bệnh tái phát cũng như tiến triển. Phẫu thuật khả thi với tỷ lệ biến chứng chấp nhận được đi kèm với lợi ích lâu dài. Qua nghiên cứu, chúng tôi mong muốn cung cấp thông tin để tạo thuận lợi cho việc xác định những bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ phẫu thuật.
2 Tỷ lệ đọ chéo tiền ghép thận dương tính do kháng thể IGM xác định bằng phương pháp bất hoạt kháng thể bằng nhiệt độ tại bệnh viện Chợ Rẫy / Trần Thanh Tùng, Võ Quốc Việt, Trần Thị Mỹ Duyên, Hoàng Thị Thuý Hà, Đào Thị Thoan, Phan Thị Thu Hà, Huỳnh Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Cảm, Nguyễn Thị Mỹ Tiên // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 572 - 579 .- 610
Khảo sát tỷ lệ đọ chéo lympho B và T tiền ghép thận dương tính do kháng thể loại IgM bằng kỹ thuật HI-XM-CDC. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 61 cặp đọ chéo có kết quả đọ chéo tiền ghép thận bằng kỹ thuật vi độc tế bào (XM-CDC) dương tính từ tháng 11/2021 – 05/2024 tại Trung tâm Truyền máu Chợ Rẫy. Kết quả: Tỷ lệ đọ chéo tiền ghép thận dương tính do kháng thể IgM là 71,4% đối với đọ chéo lympho T và 72,4% đối với đọ chéo lympho B. Trung bình tuổi của người nhận có kết quả đọ chéo dương tính do IgM là 37,2 tuổi và giới tính nữ chiếm tỷ lệ 52,2% so với giới nam là 47,8%. Ngoài ra, 76,1% các cặp đọ chéo dương tính do IgM là các cặp đọ chéo cùng huyết thống và tỷ lệ các cặp đọ chéo tương hợp HLA trên 3 alen là 71,4%. Kết luận: Kết quả bước đầu ứng dụng phương pháp HI-XM-CDC cho thấy tỷ lệ đọ chéo tiền ghép thận dương tính do kháng thể IgM tại bệnh viện Chợ Rẫy là trên 70%.
3 Đánh giá hiệu quả và độc tính của xạ trị ngắn ngày tiền phẫu ung thư trực tràng giai đoạn II – III đối với bệnh nhân ≥ 70 tuổi hoặc chống chỉ định hóa trị / Nguyễn Đình Thanh Thanh, Trần Thị Thu Hà, Hồ Văn Trung, Nguyễn Quốc Bảo, Quan Anh Tiến, Châu Đức Toàn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 279 - 286 .- 610
Khảo sát độc tính cấp của điều trị, tỷ lệ đáp ứng sau xạ, sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ của bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn II – III ≥ 70 tuổi hoặc chống chỉ định hóa trị, được xạ trị tiền phẫu bằng phác đồ ngắn ngày và phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca hồi cứu 11 bệnh nhân được xạ trị vùng chậu tiền phẫu phác đồ 5Gy x 5 tại Khoa Xạ trị tổng quát, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 6/2021 đến tháng 5/2024. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 78,8 tuổi (68 - 89). Cả 100% đều bị tăng huyết áp, kèm theo các suy tim (2 bệnh nhân), đái tháo đường (3 bệnh nhân), suy thận mạn độ 2 (4 bệnh nhân). Có 5 bệnh nhân (45,4%) bướu ở trực tràng thấp. Về xếp giai đoạn, chiếm ưu thế với 10 bệnh nhân bướu cT3 (90,9%) và hạch cN1 (54,5%). Trung vị thời gian từ lúc xạ trị xong đến phẫu thuật là 5,0 tuần. Có 3 bệnh nhân (27,3%) phẫu thuật Miles và 1 bệnh nhân (9,1%) phẫu thuật Hartmann, số còn lại được cắt trước thấp. Chỉ có 2 bệnh nhân (18,2%) hóa trị sau mổ. Tỷ lệ đạt đáp ứng hoàn toàn sau mổ (pCR) là 9,1% (1 trường hợp). Có 2 bệnh nhân (18,2%) bị độc tính tiêu hóa grad 1 do xạ. Với trung vị thời gian theo dõi 6,0 tháng, có 3 bệnh nhân tái phát tiến triển (27,3%) và 1 bệnh nhân (9,1%) tử vong do tai biến mạch máu não. Xác suất sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ 2 năm lần lượt là 72,7% và 90,9%. Kết luận: Xạ trị ngắn ngày tiền phẫu trong ung thư trực tràng ít tác dụng phụ, giảm kích thước bướu tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật, thích hợp cho những bệnh nhân không thể thực hiện được hóa xạ trị đồng thời.
4 Di căn xa sau mổ ung thư đại tràng phả / Vũ Hoàng Hà, Phạm Hùng Cường // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 269 - 278 .- 610
Khảo sát tình trạng di căn xa sau mổ ung thư (UT) đại tràng phải tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Bệnh nhân và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca 60 bệnh nhân UT đại tràng phải được phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ 01/2016 đến 12/2021. Kết quả: - Tỉ lệ di căn xa là 15% (KTC 95%: 6 - 24%). Trong số các trường hợp di căn xa; di căn gan, phổi và phúc mạc chiếm đại đa số (91%). - Các bệnh nhân di căn xa có tiên lượng sống toàn bộ kém hơn các bệnh nhân không di căn. - U T4a là yếu tố tiên lượng xấu độc lập đến khả năng di căn xa sau mổ. - Điều trị di căn xa nhằm điều trị tận gốc có giá trị tiên lượng độc lập khi phân tích đa biến. Các bệnh nhân điều trị đa mô thức có nguy cơ tử vong thấp hơn các bệnh nhân chỉ điều trị toàn thân 0,3 lần. Kết luận: Di căn xa sau mổ UT đại tràng phải chiếm tỉ lệ 15%; với đại đa số là di căn gan, phổi và phúc mạc. Các bệnh nhân di căn xa có tiên lượng kém hơn các bệnh nhân không di căn. Điều trị di căn nhằm tận gốc là yếu tố tiên lượng độc lập thời gian sống còn toàn bộ.
5 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng phải tại Bệnh viện Thanh Nhàn 264 / Đào Quang Minh, Nguyễn Văn Phước, Phạm Văn Biên // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 264 - 268 .- 610
Nghiên cứu nhằm mục địch đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải điều trị ung thư biểu mô tuyến tại Bệnh viện Thanh Nhàn giai đoạn 2021 - 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 41 bệnh nhân ung thư biểu mô đại tràng được phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải tại Bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 01/2021 đến tháng 3/2024. Kết quả: Tuổi trung bình trong nghiên cứu là 51,7 ± 8,3 (28 - 87 tuổi). Tỷ lệ nam/nữ là 1,3/1. Thời gian khởi phát bệnh đến khi vào viện dưới 6 tháng 52,1%, Đau bụng chiếm tỷ lệ cao nhất 97,6%. Kết quả nội soi đại trực tràng ống mềm cho thấy khối u ở đại tràng lên và manh tràng chiếm tỷ lệ 51,2%. Khối u ở đại tràng góc gan chiếm tỷ lệ 41,5%. Tất cả các trường hợp đều được cắt sát gốc bố mạch hồi đại tràng, 17,1% trường hợp được cắt nhánh phải của động mạch đại tràng giữa. Vét hạch D2 chiếm tỷ lệ cao 87,8%. Số hạch thu được trung bình là 18,1 ± 5,0 hạch. Thời gian mổ trung bình 142,1 ± 23,8 phút (thấp nhất 87 phút, cao nhất 186 phút). Cắt nửa đại tràng phải mở rộng chiếm tỷ lệ 12,2%, đau sau mổ trung bình 3,1 ± 1,2 ngày. Thời gian có lại trung tiện trung bình 3,1 ± 1,9 ngày. Nhiễm trùng vết mổ chiếm tỷ lệ 9,8%. Bục xì miệng nối gây viêm phúc mạc chiếm tỷ lệ 2,4%. Chảy máu miệng nối 2,4%. Thời gian nằm viện trung bình 8,5 ± 2,5 ngày. Kết quả xa sau mổ có 92,7% bệnh nhân còn thông tin liên lạc và theo dõi đánh giá được tại thời điểm kết thúc nghiên cứu. Tại thời điểm kết thúc nghiên cứu có 8,1% trường hợp tử vong, 13,5% tái phát di căn nhưng không có tái phát tại chỗ. Thời gian sống thêm sau mổ của nhóm nghiên cứu trung bình là 33,15 ± 1,25 tháng. Tỷ lệ sống thêm sau 1 năm là 96,5%, sau 3 năm là 78,6%. Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải điều trị ung thư biểu mô tại Bệnh viện Thanh Nhàn cho kết quả tốt, tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp, đảm bảo về mặt ung thư học… góp phần nâng cao chất lượng điều trị bệnh nhân ung thư tại Hà Nội.
6 Bước đầu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật bơm nước vào khoang màng bụng trong kết hợp đốt u gan bằng vi sóng các vị trí nguy cơ cao tại Bệnh viện Ung Bướu / Nguyễn Vĩnh Thịnh, Huỳnh Thị Đỗ Quyên, Huỳnh Khánh Phú, Phạm Thế Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 244 - 249 .- 610
Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật bơm nước vào khoang mang bụng trong kết hợp đốt u gan bằng vi sóng các vị trí nguy cơ cao. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca với 39 u ác tính ở vị trí nguy cơ cao ở 32 bệnh nhân có chỉ định thực hiện đốt vi sóng từ 31/01/2024 đến 19/6/2024 tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Tuổi, kích thước khối u, lượng dịch bơm vào khoang màng bụng, hiệu quả bơm dịch, thời gian đốt, ghi nhận biến chứng, kết quả theo dõi sau can thiệp được ghi nhận. Kết quả: Tỉ lệ bơm nước vào khoang màng bụng thành công là 26/32 trường hợp (81,25%), kích thước u trung bình 25,89mm (10 - 50mm), lượng dịch bơm trung bình 548,44ml (200 - 1000ml), thời gian đốt trung bình 10,62 phút (5 - 20 phút), hiệu quả thực hiện kỹ thuật đốt u bằng vi sóng là 32/39 u (82,05%), thời gian theo dõi sau 03 tháng các ca đã thực hiện thành công chưa ghi nhận tái phát hay tiến triển, không ghi nhận có biến chứng nặng. Kết luận: Đốt u gan bằng vi sóng dưới hướng dẫn siêu âm có kết hợp bơm nước vào khoang màng bụng là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị các khối u gan nguyên phát và di căn nằm ở vị trí nguy cơ cao và có thể đạt được sự kiểm soát tốt tại chỗ các khối u này.
7 Đánh giá kết quả điều trị ung thư thực quản giai đoạn II - IVA bằng hóa xạ trị đồng thời tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An / Nguyễn Thế Trọng, Nguyễn Viết Bình // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 234 - 243 .- 610
Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị và một số tác dụng phụ không mong muốn của phác đồ Paclitaxel - Carboplatin phối hợp đồng thời xạ trị bệnh ung thư thực quản giai đoạn II - IVA. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang hồi cứu kết hợp tiến cứu tiến hành trên 28 người bệnh chẩn đoán ung thư thực quản giai đoạn II - IVA tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 4/2019 đến tháng 9/2023. Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình 68,2 ± 6,1; nam giới chiếm 92,9%; lý do vào viện chủ yếu nuốt nghẹn (96,4%); thời gian đến khám từ khi có triệu chứng đầu tiên chủ yếu dưới 3 tháng (chiếm 78,6%); vị trí tổn thương thực quản chiếm tỷ lệ cao nhất 1/3 giữa (64,3%); di căn hạch chiếm 85,7%; thể mô bệnh học ung thư biểu mô vảy chủ yếu (85,7%); 100% xạ trị IMRT đủ liều 50,4Gy; hóa trị đủ 5 tuần đạt 66,7%. Về đánh giá đáp ứng điều trị theo triệu chứng lâm sàng, tỉ lệ đáp ứng toàn bộ 60,7%, trong đó tỉ lệ đáp ứng hoàn toàn 32,1%, một phần 28,6%. Các độc tính trên huyết học như giảm huyết sắc tố cao nhất chỉ độ 2 (28,6%); các độc tính ngoài huyết học như rụng tóc chỉ độ 1 (78,6%); viêm miệng chỉ độ 1 (57,6%); tiêu chảy độ 1 (14,3%); các biến chứng nặng nhất do tia xạ như viêm thực quản (64,3%). Kết luận: Hóa xạ trị kết hợp phác đồ Paclitaxel - Carboplatin đồng thời với xạ trị đối với ung thư thực quản giai đoạn II - IVA đem lại kết quả điều trị cao; các độc tính trong và sau điều trị nằm trong giới hạn kiểm soát được do đó có thể lựa chọn để điều trị triệt căn cho người bệnh ung thư thực quản.
8 Khảo sát tình trạng di căn hạch trong ung thư dạ dày sau phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM / Nguyễn Văn Vẹn, Phạm Hùng Cường, Nguyễn Tuấn Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 228 - 233 .- 610
Di căn hạch là một yếu tố tiên lượng quan trọng trong ung thư dạ dày. Nghiên cứu nhằm hai mục tiêu: Một là đánh giá mối liên quan giữa tình trạng di căn hạch với một số yếu tố giải phẫu bệnh, hai là khảo sát sự phân bố hạch di căn ở các nhóm hạch trong ung thư dạ dày. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả 94 trường hợp ung thư dạ dày loại carcinôm tuyến điều trị phẫu thuật cắt dạ dày - nạo hạch tại Khoa Ngoại ngực, bụng, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM trong thời gian 10/2023 - 6/2024. Kết quả: Có 57/94 (60,6%) trường hợp có di căn hạch sau mổ. Kích thước u, dạng đại thể Borrmann, độ sâu xâm lấn khối u, xâm nhập mạch bạch huyết và xâm nhập thần kinh là các yếu liên quan đến khả năng di căn hạch khi phân tích đơn biến. Độ sâu xâm lấn và xâm nhập mạch bạch huyết là hai yếu tố tiên đoán độc lập. Tỉ lệ di căn hạch ở nhóm hạch số 1 - 6 (56,4%) cao hơn đáng kể ở nhóm hạch số 7 - 12 (38,3%); tỉ lệ di căn hạch nhảy cóc là 4,3%. Với ung thư dạ dày phần ba trên, các hạch di căn phân bố nhiều tại nhóm 1, 3, 2 (chặng 1) và nhóm 7, 8 (chặng 2). Ung thư phần ba giữa, hạch di căn phân bố nhiều tại nhóm 3, 1, 4d (chặng 1) và nhóm 7, 8, 9 (chặng 2). Còn ung thư phần ba dưới, di căn tập trung tại nhóm 6, 4d, 3 (chặng 1) và nhóm 7, 8, 11p (chặng 2). Kết luận: Độ sâu xâm lấn khối u và xâm nhập mạch bạch huyết là hai yếu tố tiên đoán độc lập đối với tình trạng di căn hạch trong ung thư dạ dày. Sự phân bố hạch vùng di căn trong ung thư dạ dày phụ thuộc vào vị trí tổn thương; ở chặng 1, di căn hạch có xu hướng đến các nhóm hạch quanh tổn thương; còn ở chặng 2, hạch di căn tập trung chủ yếu ở các hạch quanh mạch máu lớn như nhóm số 7, 8 và nhóm 9
9 Tổn thương ống ngực một biến chứng nguy hiểm sau cắt thực quản / Lê Quang Nghĩa, Hoàng Vĩnh Chúc, Lê Quang Nhân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 220 - 227 .- 610
Nhân một trường hợp tổn thương ống ngực sau cắt thực quản. Mở đầu: Ung thư thực quản đứng hàng thứ bảy. Cắt thực quản có nhiều biến chứng hậu phẫu nặng. Tràn dịch dưỡng trấp trong xoang màng phổi (chylothorax) có tần suất 0,4 đến 2,7% với tỷ lệ biến chứng và tử vong cao. Chylothorax xảy ra sớm cần điều trị kịp thời để tránh bệnh nhân suy sụp. Chọn lựa điều trị thay đổi từ bảo tồn đến X quang can thiệp (nút tắc) và phẫu thuật. Bệnh án: Bệnh nhân Ngô văn H, 50 tuổi bị chylothorax sau cắt thực quản qua nội soi lồng ngực vì ung thư. Điều trị nội khoa thất bại nên chúng tôi dẫn lưu màng phổi 6 lần sau đó mở ngực và khâu surjet (mass ligation) khoảng giữa động mạch chủ ngực và tĩnh mạch đơn theo ý kiến của nhiều chuyên gia trên thế giới. Kết quả tốt bất ngờ. Lượng dưỡng trấp giảm dần và bệnh nhân được cho xuất viện sau 66 ngày nằm viện. Kết luận: Chylothorax là biến chứng nặng và khó điều trị. Chúng tôi báo cáo 1 trường hợp điều trị thành công bằng cách khâu surjet (mass ligation) khoảng giữa động mạch chủ và tĩnh mạch đơn ngay phía trên cơ hoành.
10 Đánh giá hiệu quả và độc tính của các thuốc EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR / Nguyễn Tuấn Khôi, Võ Thị Ngọc Trâm, Phan Đỗ Phương Thảo // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 203 - 211 .- 610
Đánh giá hiệu quả và độc tính của các thuốc EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu những bệnh nhân (BN) UTPKTBN giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR được điều trị bước một với EGFR TKI thế hệ 1 hoặc 2 tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM trong thời gian từ 01/01/2019 đến 31/12/2023. Kết quả bao gồm tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR), thời gian thất bại điều trị (TTF), tỷ lệ sống còn toàn bộ (OS) và tỷ lệ độc tính làm giảm liều hoặc ngừng điều trị. Kết quả: Tổng cộng có 282 BN, trong đó 95 BN dùng Erlotinib, 106 BN dùng Gefitinib và 81 BN dùng Afatinib. Tỷ lệ đáp ứng khách quan của nhóm Erlotinib, Gefitinib và Afatinib lần lượt là 69,5%; 73,6% và 60,5%. Trung vị thời gian thất bại điều trị của nhóm Erlotinib là 16,2 tháng; của nhóm Gefitinib là 14,2 tháng và của nhóm Afatinib là 18,9 tháng. Trung vị thời gian sống còn toàn bộ của nhóm Erlotinib là 24,4 tháng; nhóm Gefitinib là 23,5 tháng và nhóm Afatinib là 28,9 tháng. Tỷ lệ giảm liều của 3 nhóm là 14,7% ở nhóm Erlotinib; 6,6% ở nhóm Gefitinib và 39,5% ở nhóm Afatinib. Tỷ lệ ngừng điều trị do độc tính nặng là 0,94% ở nhóm Gefitinib; 2,5% ở nhóm Afatinib và không có trường hợp nào phải ngừng thuốc vĩnh viễn ở nhóm Erlotinib. Kết luận: Điều trị bước 1 bằng các EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trên các BN UTPKTBN giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR cho thấy có hiệu quả tốt với tỷ lệ đáp ứng, thời gian thất bại điều trị cũng như thời gian sống còn toàn bộ, bên cạnh đó các tác dụng phụ không mong muốn có thể kiểm soát được.