CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Các quy tắc ràng buộc trong câu tiếng Việt: Phân tích liên lí thuyết về cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng / Lý Ngọc Toàn // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 34-42 .- 400
Nghiên cứu này phân tích ba loại ràng buộc trong cấu trúc câu tiếng Việt, bao gồm ràng buộc cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, trên cơ sở vận dụng tổng hợp giữa ngữ pháp kết cấu, ngữ pháp tri nhận và lý thuyết ràng buộc. Dựa trên khung lý thuyết của ngữ pháp kết cấu và ngữ pháp tri nhận, nghiên cứu tập trung phân tích 05 hiện tượng trong cấu trúc cú pháp tiếng Việt, gồm: cấu trúc chuyển tác, cấu trúc tham tố, mệnh đề phụ thuộc, chuỗi động từ và bổ ngữ bất định. Các ràng buộc cú pháp trong tiếng Việt thể hiện qua những hiện tượng như chuỗi động từ, mệnh đề phụ thuộc và bổ ngữ bất định; ràng buộc ngữ nghĩa phản ánh sự kết hợp logic giữa các thành phần như chủ ngữ – vị ngữ, động từ – bổ ngữ và động từ – trạng từ; ràng buộc ngữ dụng liên quan đến yếu tố ngữ cảnh giao tiếp, hiện tượng lược bỏ (khoảng trống cú pháp) và cách tổ chức thông tin trong diễn ngôn. Kết quả phân tích cho thấy, mặc dù tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình, không có hệ thống hình thái đánh dấu vai trò ngữ pháp, nhưng vẫn tồn tại các ràng buộc về cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng điều phối cách tổ chức và vận hành của các thành phần trong câu. Nghiên cứu góp phần hoàn thiện mô hình phân tích cú pháp tiếng Việt theo hướng tích hợp giữa hình thức cú pháp, điều kiện ngữ nghĩa và yêu cầu ngữ dụng, đồng thời mở rộng khả năng ứng dụng vào giảng dạy tiếng Việt như ngoại ngữ và xử lý ngôn ngữ tự nhiên.
2 Khó khăn về từ vựng trong biên dịch pháp lí Anh - Việt: Trường hợp của sinh viên chuyên ngữ / Nguyễn Nhân Ái // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 51-58 .- 400
Bài viết phân tích những khó khăn về từ vựng mà sinh viên chuyên ngữ gặp khi biên dịch pháp lý từ Anh sang Việt, đồng thời làm rõ nguyên nhân và đề xuất giải pháp toàn diện. Thông qua nghiên cứu hỗn hợp với 60 sinh viên và 2 giảng viên, kết quả cho thấy thuật ngữ chuyên ngành, bán chuyên ngành, từ mượn, từ đồng nghĩa, cụm từ lặp, cùng từ cổ là trở ngại thường gặp. Các yếu tố khách quan như khác biệt hệ thống pháp luật, thiếu tài liệu kết hợp nguyên nhân chủ quan làm phức tạp quá trình chuyển ngữ. Từ đó, nghiên cứu khuyến nghị rèn luyện kiến thức chuyên sâu, khai thác, tham khảo nguồn tài liệu có sẵn và áp dụng chiến lược dịch linh hoạt và nghiên cứu văn hoá – pháp luật nói chung nhằm góp phần nâng cao năng lực biên dịch cho sinh viên.
3 Sự chuyển hoá từ loại trong tiếng Việt / Đào Thanh Lan // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 3-8 .- 400
Sự chuyển hóa từ loại trong tiếng Việt tuy đã được ngữ pháp truyền thống đề cập nhưng với những nghiên cứu mới của bài viết này trong cái nhìn toàn diện của ngữ pháp hiện đại bao gồm các phương diện kết học, nghĩa học, dụng học thì có nhiều kết quả mới. Nó không chỉ là sự chuyển hóa từ tính (tính chất từ loại của từ) trong phạm vi thực từ hay từ thực từ sang hư từ do quá trình ngữ pháp hóa mà còn là sự chuyển hóa từ tính của hư từ do quá trình tình thái hóa hư từ.
4 Về các địa danh có yếu tố “quèn” ở Việt Nam / Trần Thị Hồng Hạnh // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 9-17 .- 400
Bài viết này tập trung vào các địa danh có yếu tố Quèn ở Việt Nam và tiếp cận chúng từ góc độ liên ngành. Các tài liệu ngôn ngữ học cũng như các tài liệu sử học, khảo cổ học, địa lý học đã thu thập được cho thấy việc giải thích ý nghĩa và xác định nguồn gốc của địa danh Quèn khá phức tạp. Bài viết cũng gợi ý về hướng tiếp cận địa danh này theo hướng tiếp xúc ngôn ngữ và đây sẽ là hướng nghiên cứu cần được tiếp tục để có thể đưa ra được giả thiết về nguồn gốc của địa danh này.
5 Về khía cạnh âm vị học của các ngôn ngữ Tai - Kadai / Nguyễn Ngọc Bình // .- 2023 .- Số 5 .- Tr. 30-38 .- 400
Ngữ hệ Tai-Kadai bao gồm gần 100 ngôn ngữ khác nhau, tập trung ở Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. Bài viết đề cập đến các vấn đề mới nhất của ngữ hệ này, đặc biệt là các nghiên cứu về bình diện âm vị học của các ngôn ngữ Tai-Kadai trên thế giới. Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học đã khẳng định rằng ngữ hệ Tai-Kadai có ảnh hưởng lớn đến các ngữ hệ khác ở Đông Nam Á.
6 Vai trò của biểu thức danh hoá khi tái cấu trúc ngữ pháp câu tiếng Việt nhìn từ quan điểm tri nhận / Đỗ Hồng Dương // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 49-60 .- 400
Bài báo nghiên cứu vai trò của các biểu thức danh hóa khi tái cấu trúc cú pháp tiếng Việt theo hai lý thuyết chính: ngữ pháp tri nhận và thuyết phù hợp. Bài báo phân loại các kiểu cấu trúc thành hai nhóm dựa trên vai trò tri nhận của biểu thức danh hoá: nhóm nền tri nhận và nhóm tạo hình (tổ chức thông tin trọng tâm). Bài báo đi sâu vào phân tích nhóm nền tri nhận và giới thiệu sơ lược nhóm tạo hình, coi nhóm tạo hình là hướng nghiên cứu tiếp theo. Kết quả cho thấy các biểu thức danh hóa giúp điều chỉnh góc nhìn, tăng tính khách quan, và góp phần làm tối ưu hóa giao tiếp. Bài báo cũng đề cập đến một số lỗi xảy ra trong quá trình tái cấu trúc và coi là một hướng nghiên cứu cần thiết trong tương lai.
7 Lí thuyết “ẩn dụ chuỗi lớn” và ứng dụng trong phân tích ngôn ngữ / Lê Thị Thu Hoài // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 39-48 .- 400
Bài viết này trình bày khái quát về lý thuyết Ẩn dụ Chuỗi lớn (Great Chain Metaphor) do Lakoff và Turner đề xuất, đồng thời làm rõ cơ chế hoạt động của mô hình này trong việc lý giải các hiện tượng ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ. Khác với các lý thuyết ánh xạ truyền thống vốn chỉ tập trung vào mối liên hệ giữa hai miền ý niệm riêng lẻ, Ẩn dụ Chuỗi lớn hướng tới việc phân tích ẩn dụ trong một hệ thống liên tầng bậc, từ tự nhiên, sinh vật học đến các đặc trưng tâm lý – xã hội của con người. Trên cơ sở đó, bài viết bước đầu khảo sát một số khả năng ứng dụng của mô hình này trong phân tích các kiểu diễn ngôn khác nhau như tục ngữ, diễn ngôn chính trị, truyền thông, ứng dụng trong dịch thuật và xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP). Những phân tích cụ thể cho thấy, lý thuyết Ẩn dụ Chuỗi lớn không chỉ giúp nhận diện chính xác hơn các tầng ánh xạ hàm ẩn trong ngôn ngữ, mà còn hỗ trợ hiệu quả trong việc lựa chọn chiến lược diễn giải, dịch thuật và tạo lập các biểu thức ngôn ngữ giàu tính biểu cảm. Với tính hệ thống và khả năng tích hợp cao, mô hình này có tiềm năng trở thành một công cụ phân tích hữu ích cho các nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh giao tiếp liên văn hóa và phát triển trí tuệ nhân tạo hiện nay.
8 Ngữ pháp và ngữ nghĩa của các danh từ đơn vị “bầy”, “đàn”, “lũ” trong tiếng Việt / Võ Thị Minh Hà // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 61-70 .- 400
Bầy, đàn, lũ là những danh từ đơn vị mang ý nghĩa số nhiều, đồng nghĩa, và có nguồn gốc thuần Việt. Ba từ này tuy cùng dùng để nói về một số lượng nhiều phiếm định của động vật hoặc người nhưng lại phân biệt nhau ở những nét nghĩa tinh tế trong cách diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp và ý nghĩa từ vựng. Sự khác biệt trong nội bộ nhóm từ đồng nghĩa này cho thấy nhận thức của người bản ngữ trong sự chuyển di từ miền động vật sang miền con người và qua đó thể hiện thái độ của người nói đối với đối tượng được đề cập.
9 Thuyết phục từ hướng tiếp cận của lí thuyết dụng học / Đoàn Cảnh Tuấn // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 71-80 .- 400
Thuyết phục có thể được coi là một trong những đích quan trọng bậc nhất của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, chịu sự chi phối của nhiều lý thuyết dụng học lớn như lập luận, nghĩa hàm ẩn và các quy tắc hội thoại bao gồm nguyên tắc cộng tác, lịch sự và lý thuyết quan yếu. Do vậy, bài viết góp phần làm rõ mối liên hệ mật thiết giữa các lý thuyết kể trên với thuyết phục, phác họa bức tranh tổng quan tình hình nghiên cứu thuyết phục dưới góc nhìn của dụng học khi xét đến các thông điệp thuyết phục cũng như các chiến lược giao tiếp thuyết phục, qua đó hé lộ những khoảng trống nghiên cứu liên quan đến vấn đề, đặc biệt trong Việt ngữ học.
10 Ảnh hưởng của âm cuối đến âm chính trong tiếng Ba Na / Nguyễn Trần Quý, Phan Trần Công, Nguyễn Thị Phương Trang, Lê Khắc Cường // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 3-12 .- 400
Khi nghiên cứu đặc điểm âm học của vần của tiếng Ba Na, chúng tôi ghi nhận tần số F1 ở cuối nguyên âm trong tổ hợp âm chính với âm cuối hữu thanh, hoặc âm chính với âm cuối vô thanh có thể tương đương nhau. Nguyên âm hàng sau tròn môi [u] thường bị ảnh hưởng bởi âm cuối vô thanh hay hữu thanh. Độ mở (F1) của nguyên âm [u] có liên quan đến loại phụ âm cuối và phương ngữ. Sự tương tác này cũng thể hiện sự khác biệt qua việc so sánh các vần này giữa hai phương ngữ Gia Lai và Bình Định. Như vậy, độ mở của nguyên âm có thể có biến đổi tùy theo phương thức phát âm của âm cuối. Về trường độ âm chính, xét trường hợp nguyên âm [a] cũng có sự tương đồng khi âm chính kết hợp với các kiểu âm cuối vô thanh/hữu thanh. Các kết hợp giữa âm chính và âm cuối cũng phản ánh đặc trưng ngữ âm phương ngữ tiếng Ba Na. Cụ thể ở phương ngữ Ba Na ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định có khác biệt so với phương ngữ ở huyện Đăk Đoa tỉnh Gia Lai về âm chính ở một số chu cảnh âm cuối.