Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu ảnh hưởng của CSR đến danh tiếng khách sạn, tương tác thương hiệu và truyền miệng điện tử (eWOM) dựa trên việc áp dụng lý thuyết tín hiệu và lý thuyết trao đổi xã hội. Phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính được áp dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết. Nghiên cứu khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ tích cực giữa ba thành phần của CSR (bao gồm kinh tế, các bên liên quan và môi trường) và danh tiếng doanh nghiệp khách sạn. Tuy nhiên, CSR kinh tế không ảnh hưởng đến tương tác thương hiệu và các thành phần tạo nên CSR của khách sạn không ảnh hưởng đến eWOM. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy CSR môi trường có tác động mạnh nhất đến danh tiếng của khách sạn và CSR của các bên liên quan có tác động mạnh nhất đến tương tác thương hiệu. Đồng thời, cả danh tiếng khách sạn và tương tác thương hiệu đều có tác động tích cực đến eWOM.
Nghiên cứu này đánh giá tác động của nhận thức hỗ trợ của tổ chức tới thực hiện công việc trong nhiệm vụ của nhân viên các ngân hàng thương mại Việt Nam thống qua vai trò trung gian của từng biến con của gắn kết với công việc. Nghiên cứu sử dụng điều tra bảng hỏi với nhóm mẫu gồm 421 nhân viên ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhận thức hỗ trợ của tổ chức tác động tích cực tới từng biến con của gắn kết với công việc bao gồm gắn kết về thể chất, gắn kết về cảm xúc và gắn kết về nhận thức. Sau đó, từng biến con của gắn kết với công việc tác động tích cực tới thực hiện công việc trong nhiệm vụ của nhân viên các ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, từng biến con của gắn kết với công việc là trung gian một phần cho mối quan hệ giữa nhận thức hỗ trợ của tổ chức và thực hiện công việc trong nhiệm vụ.
Nghiên cứu này phân tích sự phát triển của nền kinh tế dữ liệu và tổng hợp 5 thành phần phát triển kinh tế dữ liệu bao gồm: chính sách phát triển nền kinh tế dữ liệu, phát triển dữ liệu mở, khung pháp lý cho phát triển dữ liệu kinh tế, phát triển hạ tầng công nghệ và phát triển thị trường dữ liệu. Từ đó nghiên cứu tổng hợp kinh nghiệm phát triển kinh tế dữ liệu của các nước trên thế giới và đề xuất phương án phát triển kinh tế dữ liệu cho Việt Nam.
Trẻ em bị bạo lực là chủ thể bị tổn thương về thể chất lẫn tinh thần, do đó, cần thiết phải được bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau. Hiện nay, các biện pháp bảo vệ trẻ em bị bạo lực được chia thành hai nhóm chủ yếu là biện pháp phòng ngừa và biện pháp can thiệp. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy các biện pháp phòng ngừa chưa thực sự hạn chế được nguy cơ bị bạo lực cho trẻ em, đặc biệt là nhóm trẻ yếu thế; các biện pháp can thiệp chưa đảm bảo được sự tiếp cận của các nhóm trẻ em, đặc biệt trẻ em ở khu vực miền núi; các dịch vụ thiết yếu như tư vấn tâm lí, chăm sóc y tế chưa sẵn có... Trên cơ sở đánh giá thực trạng các biện pháp bảo vệ đối với trẻ em bị bạo lực, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các biện pháp phòng ngừa và can thiệp đối với trẻ em bị bạo lực ở Việt Nam.
Giải quyết bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính giúp khôi phục kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự bị thiệt hại do hoạt động hành chính nhà nước trái pháp luật gây ra, đồng thời góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng. Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã có những quy định tiến bộ, phù hợp về giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính. Tuy nhiên, pháp luật về giải quyết bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định dẫn đến những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn thực hiện. Bài viết phân tích nội dung các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính, chỉ ra một số điểm bất cập trong các quy định này và thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính ở Việt Nam.
Bài viết nghiên cứu về bảo lãnh của Chính phủ đối với các ngân hàng chính sách ở Việt Nam. Thông qua phân tích tình hình cấp và sử dụng bảo lãnh chính phủ vào việc tạo lập nguồn vốn cho Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam từ năm 2015 đến nay. Bài viết chỉ ra rằng, bảo lãnh của Chính phủ là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo nguồn vốn để triển khai các hoạt động tín dụng chính sách mà Chính phủ giao cho các ngân hàng này thực hiện, tuy nhiên, việc sử dụng bảo lãnh chính phủ để huy động vốn tại các ngân hàng chính sách thời gian qua cũng còn một số khó khăn, vướng mắc. Từ kết quả phân tích này, bài viết đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm tháo gỡ các vướng mắc nói trên để phát huy hơn nữa tác dụng tích cực của bảo lãnh chính phủ trong việc đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động của các ngân hàng chính sách thời gian tới.
Những năm gần đây, tình hình an ninh, trật tự liên quan đến hoạt động tín dụng đen diễn biến hết sức phức tạp, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những hạn chế trong nhận thức về tài chính toàn diện, tài chính cá nhân của người dân. Vì vậy, việc làm rõ vai trò của tài chính cá nhân, hoạt động phạm tội liên quan đến tín dụng đen là cần thiết, từ đó, đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức về tài chính cá nhân và giải pháp nhằm hạn chế nguyên nhân, điều kiện phát triển tín dụng đen ở Việt Nam thời gian tới.
Thực tiễn 35 năm đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế tư nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, an sinh xã hội của đất nước. Bài viết tìm hiểu một số chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân kể từ Đại hội VI của Đảng đến nay, đồng thời điểm lại những điểm sáng của kinh tế tư nhân trong năm 2023 và nêu ra một số triển vọng của thành phần kinh tế này thời gian tới.
Nghiên cứu này xem xét tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến chia sẻ tri thức xanh và hành vi làm việc xanh qua phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 218 nhân viên tại doanh nghiệp giải pháp phần mềm. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho vai trò của quản trị nguồn nhân lực xanh trong việc thúc đẩy quá trình chia sẻ tri thức xanh và khuyến khích hành vi làm việc xanh của nhân viên.
Bài viết này phân tích triển vọng kinh tế thế giới năm 2024 và tác động tới kinh tế Việt Nam, qua đó đề xuất một số hàm ý chính sách trong thời gian tới.