CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Diễn biến thị trường, chỉ số giá tiêu dùng và dự báo năm 2024 / Vũ Duy Nguyên // .- 2024 .- Số 820 - Tháng 3 .- Tr. 6-10 .- 330
Năm 2023 được đánh giá có nhiều thách thức cũng như điểm sáng đối với các thị trường, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi đại dịch COVID-19, tập trung thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm (giai đoạn 2021-2025) và có nhiều biến động bất thường về địa chính trị trong khu vực và trên thế giới thì việc xem xét diễn biến các thị trường, CPI năm 2023 và dự báo năm 2024 trên quan điểm kinh tế vĩ mô có ý nghĩa quan trọng để đưa ra khuyến nghị trong công tác quản lý và điều hành kinh tế.
2 Điều hành chính sách tiền tệ: kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2024 / Chu Khánh Lân, Đỗ Thị Bích Hồng // .- 2024 .- Số 820 - Tháng 3 .- Tr. 11-13 .- 332
2024 là năm thứ tư thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2021-2025, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, lạm phát cao, thương mại toàn cầu sụt giảm, giá cả hàng hóa cơ bản biến động mạnh, xung đột địa chính trị, chính sách an ninh lương thực thắt chặt, điều hành chính sách tiền tệ sẽ đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo quyết liệt, đúng đắn, kịp thời của Chính phủ, sự nỗ lực, quyết tâm chính trị của ngành Ngân hàng, tin tưởng rằng, điều hành chính sách tiền tệ năm 2024 sẽ tiếp tục góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát đạt mục tiêu đề ra của Quốc hội và Chính phủ.
3 Quản lý nợ công bền vững nhằm xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế / Lê Quang Thuận, Lê Văn Cương, Nguyễn Thị PhươngThúy // .- 2024 .- Số 1 (548) - Tháng 1 .- Tr. 3 - 12 .- 657
Bài viết nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý nợ công bền vững với xây dựng nền 3 kinh tế độc lập, phân tích thực trạng quản lý nợ công với mục hiệu xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự chủ và những vấn đề đặt ra. Theo đó phạm vi nợ công của Việt Nam vẫn còn có sự khác biệt so với thông lệ quốc tế; nợ công của Việt Nam tiềm ẩn nhiều rủi ro khi thu ngân sách đang có xu hướng giảm trong ngắn hạn trong khi áp lực chi ngân sách gia tăng; đặc điểm danh mục nợ chính phủ vẫn tiềm ẩn rủi ro bởi vì kỳ hạn trả nợ gốc rút ngắn còn một nửa so với điều kiện vay ban đầu; việc huy động vốn của Chính phủ gặp một số khó khăn nhất định tại một số thời điểm; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay; thiểu bộ phận chuyên trách về nợ tại địa phương.Từ đó, đề xuất một số kiến nghị về quản lý nợ công bền vững nhằm xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu, rộng.
4 Ảnh hưởng của xuất khẩu, mức độ sử dụng vốn kinh doanh đến năng suất lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam / Võ Văn Dứt // .- 2024 .- Số 1 (548) - Tháng 1 .- Tr. 13 - 23 .- 658
Nghiên cứu xem xét tác động của xuất khẩu và mức độ sử dụng vốn đến năng suất lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam thông qua lý thuyết học hỏi thông qua xuất khẩu và tăng trưởng tân cổ điển. Sử dụng dữ liệu trích từ bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa từ Tổng cục Thống kê, kết hợp với mô hình hồi quy tuyến tính ước lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất, nghiên cứu kiểm định các giả thuyết xuất khẩu và mức độ sử dụng vốn ảnh hưởng thuận chiều đến năng suất lao động của doanh nghiệp. Kết quả phân tích cho thấy, các giả thuyết được ủng hộ hoàn toàn với sự kiểm soát các nhân tố thuộc đặc điểm của doanh nghiệp và người lao động.
5 Quản lý, điều hành giá năm 2024 và một số vấn đề đặt ra / Bộ Tài chính // .- 2024 .- Số 820 - Tháng 3 .- Tr. 14-16 .- 658
Trong năm 2023, dưới sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng các kịch bản điều hành giá phù hợp theo từng thời điểm, diễn biến của thị trường. Nhờ đó, lạm phát trong năm qua được kiểm soát tốt, dưới ngưỡng cho phép. Phát huy kết quả đạt được, năm 2024, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành tham mưu cho Chính phủ chỉ đạo điều hành giá thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý giá nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh và ổn định đời sống của người dân.
6 Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam / Nguyễn Thị Mai, Dương Thế Duy, Bùi Nhật Huy // .- 2024 .- Số 1 (548) - Tháng 1 .- Tr. 24 - 34 .- 658
Xác định mức độ động của nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam. Nghiên cứu đánh giá kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong giai đoạn từ năm 2010 - 2019. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mối tương quan với quy mô vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trình độ giáo dục của quốc trong gia và thu nhập quốc gia phân theo nhóm. Ngoài ra, vốn tư nhân ở khu vực công nghiệp, xây dựng, khu vực dịch vụ, quy mô GDP từ thuế và trình độ giáo dục cũng góp phần cải thiện đáng kể đến sự chuyển dịch của các ngành.
7 Khuyến nghị chính sách “chính thức hóa” hộ kinh doanh ở Việt Nam / Hoàng Thị Thu Huyền // .- 2024 .- Số 1 (548) - Tháng 1 .- Tr. 35 - 46 .- 658
Dựa trên cơ sở dữ liệu tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục thống kê và khảo sát thực địa năm 2022, nghiên cứu đã đánh giá thực trạng “chính thức hóa” hộ kinh doanh, tập trung vào khía cạnh chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp (nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hồ Chí Minh). Từ đó, nghiên cứu đã đưa ra 18 khuyến nghị chính sách “chính thức hóa” hộ kinh doanh, trong đó đáng lưu ý các khuyến nghị dựa trên: tiếp cận chính sách hướng vào lợi ích kinh tế và nhu cầu chuyển đổi thực sự của hộ kinh doanh; tiếp cận kinh tế học hành vi để nâng cao tính chính thức đối với hộ kinh doanh, quản lý hộ kinh doanh quy mô lớn tiệm cận sát hơn nữa với doanh nghiệp để hành vi lựa chọn chuyển đổi lên doanh nghiệp diễn ra một cách “tự nhiên”.
8 So sánh nhận thức về phát triển thương mại điện tử bền vững của nhà bán lẻ và người tiêu dùng Việt Nam / Chử Bá Quyết, Lê Kim Dung // .- 2024 .- Số 1 (548) - Tháng 1 .- Tr. 47 - 57 .- 658
Bằng cách kiểm tra Levene từ cặp 210 quan sát, nghiên cứu phát hiện ra rằng có nhận thức tương đồng về tinh bền vững của thương mại điện tử và tính bền vững của môi trường sinh thái, nhưng có sự khác biệt trong nhận thức về tính bền vững sinh thái và tinh bền vững xã hội giữa hai nhóm người này. Từ đó, nghiên cứu đưa ra khuyến nghị cho các cơ quan liên quan trong việc xây dựng và thực thi chính sách phát triển thương mại điện tử bền vững ở Việt Nam.
9 Nỗ lực và kết quả công việc của lao động giao hàng công nghệ ở Việt Nam : vai trò của đặc điểm nhiệm vụ và động lực / Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt Trần Thị Hoàng Hà Lưu Thị Thuỳ Dương // .- 2024 .- Số 1 (548) - Tháng 1 .- Tr. 58 - 70 .- 658
Nghiên cứu này là xem xét sự tác động của yếu tố đặc điểm nhiệm vụ đối với động lực, nỗ lực làm việc và kết quả công việc của các lao động giao hàng công nghệ tại Việt Nam. Dựa trên dữ liệu khảo sát từ 253 lao động giao hàng công nghệ, kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng về mối quan hệ tác động trực tiếp giữa các yếu tố đặc điểm nhiệm vụ với động lực bên trong và ảnh hưởng tích cực của động lực làm việc với nỗ lực và kết quả làm việc của lao động giao hàng công nghệ. Đặc biệt, vai trò điều tiết ngược chiều của động lực bên ngoài với động lực bên trong cũng được khẳng định trong nghiên cứu này. Các phát hiện của nghiên cứu cung cấp thêm các quan điểm mới về việc thiết kế các dịch vụ giao hàng công nghệ nhằm thúc đẩy động lực và nỗ lực trong công việc của người lao động.
10 Ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tới hiệu quả tài chính trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam / Vũ Trọng Lâm, Phan Thị Thu Hiện // .- 2024 .- Số 1 (548) - Tháng 1 .- Tr. 71 - 82 .- 332
Bài viết này của ông tập trung tìm hiểu tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, thông qua các yếu tố như khả năng tiếp cận vốn, hiệu quả tài chính, danh tiếng doanh nghiệp, sự hài lòng của nhân viên, lòng trung thành của khách hàng, sự hỗ trợ của chính phủ.Ngoài ra, nghiên cứu còn xem xét vai trò điều tiết của quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu. Từ đó đưa ra khuyến nghị để các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thực hiện CSR một cách hiệu quả và nâng cao hiệu quả tài chính bền vững cho doanh nghiệp.