CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến chỉ số chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Đặng Hải Yến // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 203 .- Tr. 13 - 26 .- 332.024
Chính sách tiền tệ luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tác động đến chỉ số chứng khoán và tác động trực tiếp đến hành vi của nhà đầu tư. Vì vậy, nghiên cứu tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến chỉ số chứng khoán (VNI) Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2023, áp dụng mô hình SVAR (tự hồi quy vectơ cấu trúc) với dữ liệu từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2023. Kết quả chỉ ra rằng cung tiền M2, có phản ứng cùng chiều trong khi đó lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng có tác động ngược chiều đến chỉ số chứng khoán Việt Nam, trong đó phản ứng của chỉ số chứng khoán đối với sự thay đổi cung tiền M2 mạnh hơn đối với sự thay đổi lãi suất liên ngân hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu ghi nhận ảnh hưởng đáng kể từ các biến kiểm soát trong mô hình như chỉ số giá tiêu dùng, tỷ giá hối đoái và chỉ số sản xuất công nghiệp. Phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm và gợi mở các khuyến nghị chính sách đến các bên liên quan như nhà đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán và các nhà hoạch định chính sách nhằm phát huy hiệu quả thị trường chứng khoán Việt Nam.
2 Tác động phi tuyến của tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và phát triển tài chính đến sự bền vững môi trường ở Việt Nam / Nguyễn Huỳnh Mai Trâm, Bùi Hoàng Ngọc, Phạm Đình Long // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 203 .- Tr. 27 - 44 .- 330
Nghiên cứu này khám phá tác động phi tuyến tính của tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và phát triển tài chính đến sự bền vững môi trường ở Việt Nam trong giai đoạn 1990-2022. Bằng việc áp dụng phương pháp hồi quy phân vị dựa trên phân vị (quantile-on-quantile), kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế có tác động ngược chiều với sự bền vững môi trường, nhưng tác động tiêu cực này giảm dần ở các phân vị cao (0,6-0,95). Điều này ngụ ý rằng khi tăng trưởng kinh tế đạt đến một mức độ nhất định thì tốc độ suy thoái chất lượng môi trường sẽ giảm. Tương tự, tác động của chuyển đổi số đến dấu chân sinh thái là thuận chiều, yếu ở những phân vị thấp (0,01-0,4) nhưng tăng dần ở các phân vị cao. Cuối cùng, phát triển tài chính có tác động hỗ trợ cho sự bền vững môi trường, ảnh hưởng này mạnh ở những phân vị cao. Những phát hiện của nghiên cứu, cung cấp bằng chứng quan trọng cho cơ quan quản lý trong việc cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và bảo vệ môi trường, đồng thời khuyến khích phát triển thị trường tài chính như một công cụ hỗ trợ sự bền vững môi trường ở Việt Nam.
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm F & B có sử dụng bao bì thân thiện với môi trường / Trần Nguyễn Khánh Hải, Nguyễn Vũ Yến Nhi, Nguyễn Quỳnh Anh // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 203 .- Tr. 45 - 53 .- 658
Tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm (YĐMSP) F&B có sử dụng bao bì thân thiện với môi trường. Nghiên cứu này khảo sát 320 người thường xuyên sử dụng sản phẩm F&B có sử dụng bao bì thân thiện môi trường (BBTTMT) tại thành phố Hồ Chí Minh và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 25.0. Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy rằng, tất cả 4 yếu tố: kiến thức về môi trường, kinh nghiệm về sản phẩm xanh, chuẩn mực chủ quan, thái độ đều ảnh hưởng đến YĐMSP F&B có sử dụng bao bì thân thiện với môi trường. Kết quả đã góp phần đề xuất giải pháp giúp cho những doanh nghiệp trong ngành giảm thiểu được khối lượng rác thải ra ngoài môi trường, hướng tới sự bền vững trong phát triển kinh tế.
4 Tỷ lệ bệnh đục thể thủy tinh ở bệnh nhân trước - sau một năm ghép thận / Nguyễn Lê Trung, Phạm Quốc Toàn, Nguyễn Đình Ngân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 329 - 333 .- 610
Xác định tỷ lệ đục thể thuỷ tinh ở bệnh nhân sau ghép thận một năm tại Bệnh viện Quân y 103 và bình luận một số yếu tố ảnh hưởng liên quan đến đục thể thuỷ tinh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 111 bệnh nhân ghép thận (222 mắt) tại Bệnh viện Quân y 103, đánh giá tình trạng đục thể thuỷ tinh và một số yếu tố ảnh hưởng trước và sau ghép. Kết quả: Trước ghép thận, tỷ lệ đục thể thuỷ tinh là 16,2%, sau ghép tăng lên 23% ở mắt phải và mắt trái tăng từ 13,5% lên 28,8%. Các yếu tố ảnh hưởng là thời gian suy thận, thời gian lọc thận kéo dài, nồng độ ure-creatin trong máu cao, bệnh nhân đái tháo đường sau ghép thận và liều prednisolon. Kết luận: Trước ghép thận, tỷ lệ đục thể thuỷ tinh là 16,2%, sau ghép tăng lên 23% ở mắt phải và mắt trái tăng từ 13,5% lên 28,8%. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm tuổi, thời gian điều trị thận trước khi ghép, thời gian lọc máu, nồng độ urê-creatinin, liều prednisolone và bệnh tiểu đường sau khi ghép thận.
5 Biểu hiện yếu tố tăng trưởng khi sử dụng fibrin giàu tiểu cầu trong điều trị viêm nha chu có tiêu xương theo chiều dọc / Nguyễn Việt Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 324 - 329 .- 610
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá mức độ hiện diện của các yếu tố tăng trưởng (GFs) PDGF, VEGF và TGF-β1 trong dịch khe nướu khi sử dụng fibrin giàu tiểu cầu (A-PRF) trong điều trị viêm nha chu có tiêu xương theo chiều dọc. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu với thiết kế nửa miệng thực hiện trên 23 bệnh nhân (46 vị trí viêm nha chu có tiêu xương theo chiều dọc). Sang thương nha chu được phân chia ngẫu nhiên vào 2 nhóm: nhóm can thiệp có sử dụng A-PRF và nhóm chứng. Thu thập dịch khe nướu và đánh giá nồng độ các GFs PDGF, VEGF và TGF-β1 vào các ngày 0 (ngay trước phẫu thuật), ngày 1, 3, 7, 14, 21 và 30 sau phẫu thuật. Kết quả: Nồng độ GFs (PDGF-BB, VEGF và TGF-β1) ở nhóm có sử dụng A-PRF cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê ở giai đoạn sớm (ngày 1, ngày 3), ở các thời điểm ngày 7, 14, 21 và 30 sự khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05). Xu hướng phóng thích PDGF-BB, VEGF và TGF-β1 theo thời gian giống nhau trên cả hai nhóm: cao nhất ở ngày 1 sau phẫu thuật và giảm dần đến ngày 30. Kết luận: Các yếu tố tăng trưởng trong dịch khe nướu gia tăng ở giai đoạn sớm khi sử dụng fibrin giàu tiểu cầu trong điều trị viêm nha chu có tiêu xương theo chiều dọc, điều này cho thấy tiềm năng lớn trong tái tạo mô nha chu.
6 Nghiên cứu tác động của hệ giá trị lên hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh của người tiêu dùng Việt Nam / Đỗ Thị Hồng Vân // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 203 .- Tr. 72 - 85 .- 658
Tìm hiểu tác động của hệ giá trị bao gồm giá trị văn hóa và giá trị vị kỷ lên hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh của người tiêu dùng Việt Nam. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 297 người tiêu dùng, sau đó được xử lý trên phần mềm SPSS 25.0. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố “chủ nghĩa tập thể”, “quyền lực kiểm soát vật chất” và “thể diện” tác động có ý nghĩa thống kê lên hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh; ngược lại các yếu tố “chủ nghĩa cá nhân”, “quyền lực kiểm soát con người” không tác động lên hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh. Kết quả nghiên cứu cũng hàm ý khuyến nghị chính sách cho các nhà tiếp thị và nhà hoạch định nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng có trách nhiệm và cải thiện cuộc sống cộng đồng.
7 Tác động của quản trị doanh nghiệp tốt đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Thị Thanh Nhàn // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 202 .- Tr. 3 - 15 .- 658
Phân tích tác động của quản trị doanh nghiệp tốt đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2021-2023. Thông qua việc thu thập và xử lý 120 báo cáo tài chính, nghiên cứu đã đo lường chất lượng quản trị doanh nghiệp dựa trên các yếu tố gồm: tính độc lập của Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập trong Ban kiểm soát, quyền sở hữu của ban điều hành và sự hiện diện của Ủy ban kiểm toán, trong khi hiệu quả tài chính được đánh giá bằng tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA). Bằng phương pháp phân tích định lượng với mô hình hồi quy tuyến tính trên dữ liệu bảng và sử dụng phần mềm EViews, nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính độc lập của Hội đồng quản trị có tác động tích cực nhưng không đáng kể về mặt thống kê đối với ROA, trong khi tỷ lệ thành viên độc lập trong Ban kiểm soát, quyền sở hữu của ban điều hành và Ủy ban kiểm toán đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả tài chính. Khi xét tổng thể, các yếu tố quản trị doanh nghiệp này đồng thời cho thấy tác động tích cực và đáng kể đối với ROA, với mức độ giải thích lên tới 84,82%, qua đó khẳng định vai trò quan trọng của việc nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp trong việc cải thiện hiệu quả tài chính của các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam.
8 Doanh nghiệp năng lượng tái tạo trước rủi ro hồi tố giá FIT : đánh giá tác động và giải pháp / Nguyễn Thị Thanh Vân // Nghiên cứu khoa học kiểm toán .- 2025 .- Số 297 .- Tr. 10 - 13 .- 658
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu khái quát về giá FIT và tình hình áp dụng chính sách giá FIT tại Việt Nam trong những năm gần đây. Thông qua việc rà soát các điều kiện triển khai chính sách ưu đãi, nghiên cứu đã tiến hành phân tích sâu về tác động của việc hồi tố giá FIT đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Các khía cạnh được xem xét bao gồm rủi ro pháp lý phát sinh từ sự thay đổi chính sách, ảnh hưởng tài chính trực tiếp đến dòng tiền và hiệu quả đầu tư, cũng như hệ lụy tiềm tàng đối với tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị trên góc độ Chính phủ và góc độ doanh nghiệp đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và hệ thống điện quốc gia, đồng thời giữ vững cam kết về một môi trường đầu tư ổn định và minh bạch.
9 Hoàn thiện các chính sách về bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với lao động phi chính thức tại Việt Nam / Nguyễn Hải Vân // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2025 .- Số 297 .- Tr. 19 - 22 .- 368
Đề cập đến khái niệm an sinh xã hội đối với lao động phi chính thức, phân tích thực trạng cùng những rào cản trong giai đoạn hiện nay, từ đó sẽ đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách trong tương lai.
10 Vốn trí tuệ và phương pháp đo lường hiệu quả sử dụng vốn trí tuệ / Lâm Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Quỳnh Châm // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2025 .- Số 297 .- Tr. 23- 27 .- 658
Vốn trí tuệ (Intellectual Capital) đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị gia tăng và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Bài viết hệ thống hoá khái niệm vốn trí tuệ và các thành phần cấu thành. Bên cạnh đó, bài viết giới thiệu hai phương pháp phổ biến trong đo lường hiệu quả sử dụng vốn trí tuệ: phương pháp hệ số giá trị gia tăng (VAIC) và phương pháp hệ số giá trị gia tăng điều chỉnh (MVAIC) với dữ liệu thực nghiệm của hai doanh nghiệp đại diện cho ngành tài chính và bất động sản ở Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách và khuyến nghị cụ thể nhằm lựa chọn phương pháp đo lường phù hợp với từng ngành cụ thể.