CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết tại Việt Nam / Bùi Duy Linh, Phạm Thị Thu Hường // .- 2024 .- Số 321 - Tháng 03 .- Tr. 73-80 .- 333.33068
Bằng phương pháp xử lý dữ liệu bảng, mô hình phù hợp với dữ liệu của nghiên cứu là mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS). Kết quả cho thấy quy mô công ty, khả năng thanh toán ngắn hạn và tăng trưởng doanh thu là những yếu tố có tác động tích cực đến khả năng sinh lời được đo lường bởi tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao khả năng sinh lời tại các công ty bất động sản niêm yết ở Việt Nam.
2 Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và cam kết với tổ chức qua phân tích trắc nghiệm thư mục / Mai Thị Thương, Phan Thanh Hải, Phan Tuấn Anh, Hồ Tất Tuân // .- 2024 .- Số 321 - Tháng 03 .- Tr. 81-92 .- 658
Kết quả nghiên cứu cho thấy các công bố về chủ đề CSR và cam kết với tổ chức được chia thành 5 nhóm tác giả chính với 4 hướng nghiên cứu chủ yếu có liên quan đến việc phát triển các khía cạnh khác nhau. Kết quả nghiên cứu góp phần hệ thống hóa được lý thuyết về chủ đề và từ đó giúp cho các nhà nghiên cứu xác định và xây dựng mô hình phù hợp cho các nghiên cứu trong tương lai.
3 Nghiên cứu tác động của phát triển kinh tế tư nhân với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam / Lê Nguyễn Diệu Anh // .- 2024 .- K2 - Số 260 - Tháng 3 .- Tr. 10-15 .- 330
Dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đưa ra để phát triển kinh tế tư nhân đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
4 Bầu cử 2023 và triển vọng chính sách đối ngoại của Thái Lan / Võ Xuân Vinh // .- 2024 .- Số 1 (286) .- Tr. 24 - 31 .- 327
Cuộc tổng tuyển cử năm 2023 ở Thái Lan đưa đến sự thắng lợi của Đảng Tiến lên phía trước, đảng chính trị theo đuổi chủ trương xóa bỏ vai trò của hoàng gia và quân đội trong nền chính trị Thái Lan. Tuy nhiên, việc không giành được đủ số phiếu cần thiết ở hai viện quốc hội đã ngăn cản ứng cử viên Pita Limjaroenrat, lãnh đạo Đảng Tiến lên phía trước trở thành Thủ tướng Thái Lan. Thậm chí ông Pita còn phải đối mặt với các rắc rối pháp lý. Sự thất bại của lãnh đạo Đảng Tiến lên phía trước Pita Limjaroenrat đã tạo cơ hội cho Srettha Thavisin của Đảng Vì nước Thái trở thành Thủ tướng Thái Lan khi đảng này liên minh với các đảng thân quân đội để đảm bảo số phiếu ủng hộ ở hai viện quốc hội. Trên cơ sở khái quát về cuộc bầu cử Thái Lan năm 2023, bài viết sẽ chỉ rõ những vấn đề của nền chính trị đất nước chùa vàng và triển vọng chính sách đối ngoại của nước này dưới sự dẫn dắt của Thủ tướng Srettha Thavisin.
5 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore trong những năm gần đây và hàm ý cho Việt Nam / Trần Chiến // .- 2024 .- Số 1 (286) .- Tr. 62 - 78 .- 327
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn lực quan trọng đóng góp lớn vào tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và đã trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế các nước, điển hình là Singapore. Singapore là một trong số những quốc gia thành công nhất trong khu vực ASEAN về thu hút đầu tư nước ngoài có chất lượng. Bài viết tập trung làm rõ những nhân tố tác động, thực trạng thu hút FDI của Singapore trong những năm gần đây và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và cũng được coi là điểm sáng hay thành tựu nổi bật nhất của Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay. Từ bài học thành công trong chính sách phát triển kinh tế cũng như thu hút vốn FDI của Singapore, Việt Nam có thể tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm thu hút FDI một cách hiệu quả, tạo đà cho sự phát triển kinh tế trong tương lai như tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến đầu tư, kinh doanh. Học hỏi kinh nghiệm của Singapore, linh hoạt điều chỉnh chiến lược phù hợp là hướng đi đúng đắn để Việt Nam tận dụng nguồn lực FDI đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
6 Chính sách phát triển bảo hiểm thương mại tại Thái Lan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam / Dương Trọng Khoa // .- 2024 .- Số 1 (286) .- Tr. 52 - 61 .- 327
Chính phủ Thái Lan trong những năm gần đây đã tập trung thực hiện xây dựng các kế hoạch phát triển bảo hiểm nhằm phù hợp với sự thay đổi của môi trường. Thị trường của Thái Lan chưa thực sự sẵn sàng mở cửa hoàn toàn khi vẫn còn khống chế tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực về bảo hiểm. Nhưng các chính sách bảo hiểm của Thái Lan đưa ra cũng đang dần tạo điều kiện cho việc mở rộng cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong và ngoài nước. Nhiều sản phẩm bảo hiểm cần thiết với Thái Lan như bảo hiểm vi mô và bảo hiểm nông nghiệp cũng được chú trọng bên cạnh những sản phẩm bảo hiểm truyền thống. Các công nghệ mới trong lĩnh vực bảo hiểm cũng đang được quan tâm. Tất cả những điều này đều nhằm hướng tới một thị trường bảo hiểm phát triển bền vững tại Thái Lan. Thông qua các nghiên cứu về chính sách phát triển bảo hiểm của Thái Lan, tác giả rút ra các bài học kinh nghiệm cho chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại tại Việt Nam.
7 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến kết quả học tập môn tiếng Anh của sinh viên trường đại học kinh tế Nghệ An / Nguy Vân Thùy // .- 2023 .- Vol 6 (N3) .- Tr. 418 - 429 .- 400
Điện thoại thông minh (ĐTTM) được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, theo các mức độ và khoảng thời gian khác nhau. Việc sử dụng này có những tác động tích cực và tiêu cực đến cuộc sống về mọi mặt. Đối với sinh viên, sử dụng ĐTTM, ngoài việc trải nghiệm những thứ mới mẻ, học tập những kỹ năng cần thiết thì ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến kết quả học tập. Bằng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi theo thang đo likert 5 cấp độ, tác giả đã thu thập thông tin mô tả về thực trạng sử dụng ĐTTM của sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An Qua đó, tác giả đánh giá và xác định được mức độ ảnh hưởng của việc sử dụng ĐTTM, đồng thời đề xuất hướng sử dụng ĐTTM một cách có hiệu quả, phát huy mặt tích cực của ĐTTM nhằm nâng cao kết quả học tập nói chung và học tiếng Anh nói riêng cho sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An.
8 Khảo sát mức độ tham gia của học sinh về việc sử dụng Quizizz cho hoạt động đánh giá thường xuyên thông qua trò chơi ở các lớp học tiếng anh như một ngoại ngữ / Trần Thị Hòa Thảo // .- 2023 .- Vol 6 (N3) .- Tr. 403 - 417 .- 400
Nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát sự ảnh hưởng của việc áp dụng Quizizz vào việc đánh giá thường xuyên lên mức độ tham gia của học sinh trung học trong các hoạt động đánh giá đó. Nghiên cứu này áp dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp trong việc thu thập và phân tích dữ liệu trên 70 học sinh của trường THPT Quốc Học. Các công cụ thu thập dữ liệu là các buổi dự giờ lớp học, bảng câu hỏi và phỏng vấn. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Thống kê SPSS cho các câu trả lời bảng câu hỏi và được phân tích theo chủ đề đối với các ghi chú trong các buổi dự giờ và phỏng vấn. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng Quizizz cho mục đích đánh giá thường xuyên trong lớp học đã có sự tác động tích cực đến mức độ tham gia của học sinh trong các hoạt động đánh giá đó. Các bạn học sinh cũng đồng ý rằng Quizizz mang lại nhiều niềm vui và hứng thú hơn cho lớp học trong suốt quá trình đánh giá, do đó, họ cảm thấy có động lực để cố gắng hơn trong học tập.
9 Trao đổi về định hướng sửa đổi và hoàn thiện Luật Kế toán 2015 / Chúc Anh Tú // .- 2024 .- Số 246 - Tháng 3 .- Tr. 7-10 .- 657
Qua quá trình hình thành và phát triển, Luật Kế toán 2015 cần thiết có những bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện, nhằm phù hợp với yêu cầu quản lý đất nước, cũng như xu hướng hội nhập. Về khuôn mẫu và sự tiếp cận, quá trình sửa đổi nên tiếp cận theo Luật Kế toán 2003 và Luật Kế toán 2015, đồng thời một số nội dung trao đổi sẽ được làm rõ trong bài viết.
10 Ảnh hưởng của các yếu tố bói cảnh đến việc tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên dạy tiếng Anh tại một trường đại học ở Việt Nam / Ngô Huỳnh Hồng Nga, Lê Công Tuấn, Nguyễn Thị Minh Thư // .- 2023 .- Vol 6 (N3) .- Tr. 372 - 385 .- 400
Các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh vẫn còn hạn chế và có rất ít đề tài tập trung vào nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố bối cảnh đến việc tham gia vào NCKH của giảng viên. Đề tài này được thực hiện nhằm điều tra kinh nghiệm của giảng viên dạy tiếng Anh đối với sự ảnh hưởng của các yếu tố bối cảnh đến việc tham gia vào hoạt động NCKH của họ. Thông qua phương pháp nghiên cứu hiện tượng (phenomenological research design), kết quả của đề tài này cho thấy rằng mặc dù việc tham gia vào NCKH của giảng viên dạy tiếng Anh chịu tác động bởi các chính sách của nhà nước và nhà trường để đáp ứng nhu cầu cải cách giáo dục, nhưng việc tham gia thật sự phụ thuộc vào trách nhiệm và động lực cá nhân của giảng viên. Nghiên cứu này cho thấy rằng các yếu tố từ cấp độ nhà nước, nhà trường và cá nhân có cả ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến kinh nghiệm tham gia NCKH của giảng viên dạy tiếng Anh. Dựa trên cơ sở lý thuyết sinh thái học (Bronfenbrenner, 1979), nghiên cứu này đề xuất mô hình liên quan đến các yếu tố thúc đẩy và cản trở sự tham gia NCKH của giảng viên dạy tiếng Anh.