Bài báo đánh giá một cách tổng quan về ứng dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành du lịch. Để nhận diện các tài liệu có liên quan, tác giả tiến hành tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu web of science và scopus với kết quả bao gồm 20 bài báo khoa học được xuất bản trong khoảng thời gian từ 2018 – 2023. Qua đó, bài báo đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu cả các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về phát triển kinh tế tuần hoàn trong du lịch. Kết quả cho thấy các yếu tố khoa học kỹ thuật và đặc công nghệ số đóng vai trò quan trọng đối với quá trình chuyển đổi số sang kinh tế tuần hoàn trong các doanh nghiệp.
Nghiên cứu xem xét vai trò của các biến số mở rộng kết hợp cùng các biến số trong mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) gốc để giải thích ý định và hành vi mua hàng thời trang xa xỉ của Gen Z tại Việt Nam. Thông qua kiểm định mô hình nghiên cứu với cỡ mẫu là 388 được thu thập từ Gen Z (11-26 tuổi) tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy tất cả các giả thuyết đều tác động trực tiếp cùng chiều với ý định và hành vi mua thời trang xa xỉ. Sử dụng kết quả nghiên cứu này, các thương hiệu thời trang xa xỉ có thể chủ động xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp thúc đẩy lượt bản và tăng doanh thu với các khách hàng Gen Z Việt Nam.
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà của các gia đình trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, với 386 mẫu khảo sát là các gia đình trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà của các gia đình trẻ: Tài chính; vị trí; nhóm tham khảo; môi trường; sự bất hòa; thiết kế, và khẳng định bản thân. Trong đó, tài chính là nhân tố có tác động mạnh nhất đến quyết định mua nhà của các gia đình trẻ. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị giúp các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản gia tăng được nhiều khách hàng là các gia đình trẻ mua nhà trong thời gian tới.
Bài nghiên cứu trình thực hiện và khảo sát 405 sinh viên đang sinh sống và theo học tại Hà Nội để đưa ra kết luận về các nhân tố có tác động đến hành vi vay vốn của sinh viên. Mô hình hồi quy nhị phân (Binary logistic) đã được sử dụng để phân tích xác suất xảy ra của hành vi. Kết quả phân tích của mô hình hồi quy đã rút ra được 3 nhân tố tác động đến quyết định vay vốn là: Nơi ở của sinh viên; Chi phí sinh hoạt; Ác cảm với nợ. Trong đó, biến ác cảm với nợ có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất tới xác suất vay vốn của sinh viên. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp như cập nhật các chương trình tín dụng sinh viên với các mức vay được đa dạng hơn; nới lỏng các điều kiện để được vay của sinh viên; tạo ra các chương trình ưu đãi vay, lên các bài viết về lợi ích đi vay nhằm phần nào giảm bớt ác cảm xấu về nợ cho sinh viên.
Để nâng cao tính chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả công tác kiểm toán nội bộ NHNN phù hợp thông lệ quốc tế và các quy định về kiểm toán nội bộ của Việt Nam, một trong những yêu cầu hiện nay là nghiên cứu, rà soát, ban hành Sổ tay Kiểm toán nội bộ NHNN nhằm tập hợp, hệ thống hóa các quy định chung về kiểm toán nội bộ của NHNN; bổ sung, cập nhật các quy định, phương thức kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán nội bộ quốc tế nói chung và kiểm toán nội bộ NHNN nói riêng làm cơ sở hỗ trợ công tác đào tạo, hướng dẫn nâng cao kỹ năng của kiểm toán viên và người làm công tác kiểm toán nội bộ.
Bài viết dựa trên cơ sở tổng quan về giám sát tài chính, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để rút ra một số bài học và khuyến nghị đối với công tác giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước tại Việt Nam hiện nay.
Nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy, dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2016 - 2022, nhằm làm rõ mối quan hệ giữa công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên 03 khía cạnh: Lao động, cộng đồng, môi trường và hiệu quả tài chính các ngân hàng (đo lường bằng tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản - ROA). Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ công bố thông tin trên 02 khía cạnh: Cộng đồng và môi trường tỉ lệ thuận với hiệu quả tài chính của các ngân hàng. Trái lại, mối quan hệ tác động ngược chiều được rút ra trên phương diện người lao động.
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu thị trường và phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đã, đang có những hoạt động và kết quả tích cực trong việc triển khai bộ E - S - G và có nhiều “hứa hẹn” sẽ thực hiện trong tương lai. Tuy nhiên, mật độ triển khai còn thấp, nguyên nhân chủ yếu từ các thách thức về công tác triển khai, thẩm định những tác động môi trường, các rủi ro liên quan đến danh mục đầu tư, quản trị, đánh giá rủi ro ESG, đội ngũ nhân sự đòi hỏi hệ thống ngân hàng cần phải giải quyết các vấn đề này. Điều này đặc biệt quan trọng nhằm tăng khả năng cạnh tranh, đảm bảo hiệu quả an toàn và lành mạnh cho các ngân hàng trước những rủi ro liên quan đến môi trường, biến đổi.
Nghiên cứu phân biệt ba nhóm doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, gồm: Doanh nghiệp không có nợ xấu, doanh nghiệp có nợ xấu còn hoạt động và doanh nghiệp có nợ xấu dừng hoạt động. Sử dụng mô hình phân biệt đa biến (MDA - Multiple Discriminant Analysis) với 2 hàm phân biệt đã cho kết quả 3 trọng tâm của các nhóm là tách biệt nhau từ dữ liệu các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán cùng phương pháp mô tả đặc tính trong hoạt động kinh tế tại Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả khuyến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả xử lí nợ xấu tại Việt Nam.