CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ phương ngữ Nam Bộ khi thâm nhập vào tiếng Việt toàn dân / Đàm Thị Thúy, Lê Thanh Hương, Lê Thị Lâm, Dương Thị Dung // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 137-141 .- 400
Trong quá trình giao lưu văn hóa – xã hội, đặc biệt dưới tác động của truyền thông đại chúng và mạng xã hội, một số lượng đáng kể từ ngữ phương ngữ Nam Bộ đã thâm nhập vào tiếng Việt toàn dân. Bài báo này khảo sát hiện tượng trên dưới góc độ ngữ nghĩa, tập trung vào việc mô tả đặc điểm nghĩa của nhóm từ ngữ Nam bộ khi thâm nhập vào tiếng Việt toàn dân. Kết quả cho thấy ba xu hướng nổi bật: (1) từ ngữ giữ nguyên nghĩa gốc, (2) từ ngữ mở rộng nghĩa/ sắc thái nghĩa, (3) từ ngữ thu hẹp nghĩa/sắc thái nghĩa. Qua đó, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của phương ngữ Nam Bộ trong việc làm giàu vốn từ vựng và sắc thái biểu đạt của tiếng Việt toàn dân.
2 Diễn giải các yếu tố thường đứng trước danh từ tiếng Việt theo quan điểm của ngữ pháp nhận thức / Nguyễn Thiện Giáp // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 3-9 .- 400
Trong bài này, chúng tôi chỉ ra những bất cập trong những cách xử lí hiện có và từ góc độ của ngữ pháp nhận thức, chúng tôi cố gắng tìm một cách diễn giải nhất quán hơn. Chúng ta có thể quy những từ đứng trước danh từ tiếng Việt thành hai loại là lượng từ và quán từ. Lượng từ gồm hai loại là lượng từ tuyết đối, đó là các số từ, và lượng từ tương đối. Lượng từ tương đối gồm lượng từ tỉ lệ và lượng từ tượng trưng. Lượng từ và quán từ là các yếu tố tiếp nền danh ngữ.. Tiếp nền (grounding) là quá trình định vị một thực thể so với nền. Tiếp nền cho phép những người tham gia hành động ngôn từ thiết lập mối liên hệ tinh thần với thực thể được chỉ định. Yếu tố tiếp nền (Grounding elements) là những yếu tố chuyên phục vụ cho chức năng tiếp nền này.
3 Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong văn học / Nguyễn Văn Hiệp // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 10-19 .- 400
Bài báo này thể hiện một nỗ lực nhằm giải quyết những lỗ hổng nghiên cứu đáng kể trong việc nghiên cứu ẩn dụ quan niệm thuộc bối cảnh văn học Việt Nam. Bài viết lập luận rằng việc nghiên cứu các ẩn dụ quan niệm trong văn học vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng, với các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và phương pháp tiếp cận hoặc là chưa được xác định, hoặc là được xác định một cách không phù hợp.
4 Hiệu ứng ngữ dụng từ sự diễn giải phi tương ứng với nghĩa của phát ngôn / Vũ Văn Đại // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 20-26 .- 400
Bằng phương pháp phân tích định tính các đoạn hội thoại và lời kể tiêu biểu, nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng cách giữa cách diễn giải của trẻ em và nghĩa phát ngôn của người lớn tạo ra những hiệu ứng ngữ dụng đặc sắc như nghịch lý kịch tính, tình huống hài hước, cảm xúc bi thương, đồng thời phản ánh phương thức tri nhận thế giới đặc trưng của trẻ em. Từ đó, để duy trì các hiệu ứng ngữ dụng, nghiên cứu đề xuất phương pháp dịch nguyên văn hay dịch ngữ nghĩa, kết hợp chú giải ngắn gọn khi cần thiết, giúp độc giả đích tiếp cận các tầng nghĩa và cảm xúc tương đương với nguyên bản.
5 Tích hợp dạy phát âm theo ngữ cảnh và phát triển kĩ năng nghe hiểu trong giảng dạy tiếng Việt (qua trường hợp nghiên cứu tại Đại học Columbia) / Nguyễn Phương Chung // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 27-34 .- 400
Dựa trên một thử nghiệm kéo dài bốn năm trong học phần Tiếng Việt năm thứ nhất tại Đại học Columbia, nghiên cứu theo dõi sự tiến bộ về phát âm và nghe hiểu của sinh viên sang năm học thứ hai. Kết quả cho thấy giá trị của việc tích hợp luyện phát âm với dạy nghe trong việc nâng cao năng lực ngôn ngữ và hỗ trợ học tập tự định hướng, đồng thời đề xuất một mô hình toàn diện cho giáo dục tiếng Việt hiện đại.
6 Các xu hướng nghiên cứu “siêu diễn ngôn” trên thế giới / Nguyễn Văn Chính, Phan Tuấn Ly // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 35-44 .- 400
Bài nghiên cứu này nhằm khái quát tình hình nghiên cứu toàn cầu liên quan đến lĩnh vực siêu diễn ngôn. Lý thuyết này được đề xuất bởi Hyland (2005) cung cấp một khung phân tích quan trọng để tiếp cận sự tương tác giữa người viết/người nói với người đọc/người nghe, cũng như nhằm làm rõ mối quan hệ giữa người viết/người nói với văn bản. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, phương pháp tổng hợp và thủ pháp thống kê đã được áp dụng để khái quát 20 công bố có liên quan, được tìm kiếm từ cơ sở dữ liệu Scopus.
7 Cấu tạo từ trong tiếng Hà Nhì ở Lai Châu / Phan Lương Hùng // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 45-50 .- 400
Hà Nhì là một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán – Tạng, nhánh Tạng – Karen, tiểu nhánh Tạng – Miến, nhóm Miến – Lô Lô (Burmese – Lolo). Về mặt loại hình, tiếng Hà Nhì là một ngôn ngữ đơn lập. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Hà Nhì chủ yếu bao gồm các phương thức: từ hóa hình vị, ghép và láy nhưng được thể hiện đa dạng và có nhiều điểm độc đáo. Bài viết này sẽ tiến hành mô tả một số đặc điểm cơ bản của cấu tạo từ trong tiếng Hà Nhì ở Lai Châu trên bình diện đồng đại.
8 Một số vấn đề cơ bản của phân tích diễn ngôn với sự trợ giúp của khối liệu / Phan Thanh Bảo Trân, Nguyễn Thị Diệp Như, Bùi Thanh Tường Thụy // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 51-60 .- 400
Bài báo này khảo sát phân tích diễn ngôn từ một góc nhìn liên ngành, tập trung vào sự giao thoa giữa phân tích diễn ngôn và ngôn ngữ học ngữ liệu. Nghiên cứu nhằm làm rõ vai trò tương ứng của ngôn ngữ học ngữ liệu và phân tích diễn ngôn trong nghiên cứu ngôn ngữ học liên ngành. Nghiên cứu về ngôn ngữ trong sử dụng cần được đặt trên nền tảng lý thuyết của ngôn ngữ học và phân tích diễn ngôn. Bài báo này cung cấp một cái nhìn tổng quan mang tính nhập môn về chủ đề, hơn là một phân tích chuyên sâu, và hướng tới việc đặt nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo mang tính toàn diện hơn.
9 Sự phân bố các biến thể của từ chỉ “mẹ” trong phương ngữ Bắc / Nguyễn Tài Thái // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 61-65 .- 400
Bài viết khảo sát các biến thể của từ chỉ “mẹ” trong phương ngữ Bắc dựa trên việc khảo sát ở các tỉnh thuộc phương ngữ Bắc và ứng dụng phần mềm ArcGIS để trực quan hóa sự phân bố không gian của từng biến thể. Kết quả cho thấy lớp từ này rất đa dạng, gồm các dạng phổ biến như mẹ, u, bu và các biến thể mang giá trị lịch sử – xã hội như bầm/ầm, đẻ, mợ. Mỗi biến thể có vùng phân bố đặc trưng: mẹ lan rộng toàn vùng, u tập trung ở đồng bằng ven biển, bu xuất hiện nhiều ở Hải Phòng, bầm ở trung du – miền núi, trong khi đẻ và mợ rải rác ở một số khu vực nhất định. Việc ứng dụng ArcGIS giúp xác lập rõ ràng ranh giới, vùng giao thoa của các biến thể, đồng thời góp phần nhận diện cấu trúc nội bộ của phương ngữ Bắc và gợi mở hướng xây dựng bản đồ phương ngữ tiếng Việt hiện đại.
10 Các bước chuyển lớn về tư duy đối ngoại Việt Nam trong 40 năm đổi mới / Dương Văn Quảng // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 9-34 .- 327
Đổi mới tư duy về đối ngoại xuất phát từ nhận thức lại cách đánh giá, dự báo thế giới và sự vận động của các mối quan hệ quốc tế (QHQT), từ đó định danh và định tính lại các chủ thể của QHQT, xác định lại nội hàm và phương thức triển khai chính sách đối ngoại. Đổi mới tư duy đối ngoại của Việt Nam trong gần 40 năm qua (1986-2025) chủ yếu tập trung vào đổi mới nhận thức trên các khía cạnh như thế giới quan và cách tiếp cận các vấn đề quốc tế, đối tượng và đối tác, hội nhập quốc tế và đối ngoại đa phương, lợi ích quốc gia - dân tộc và quốc phòng, an ninh.