Nghiên cứu này xem xét tác động của hợp đồng phái sinh (HĐPS) và sức mạnh thị trường (SMTT) đến hiệu quả hoạt động (HQHĐ) ngân hàng tại Việt Nam. Nhóm tác giả phân tích mẫu 25 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2010–2020 bằng mô hình tuyến tính tổng quát. Bài viết phát hiện ra rằng HQHĐ được cải thiện bằng cách sử dụng HĐPS. Hơn nữa, SMTT có tác động tích cực đến HQHĐ khi nó ở dưới mức tối ưu. Ngoài ra, kết quả xác nhận mối quan hệ phi tuyến tính giữa SMTT và HQHĐ ngân hàng. Những kết quả chính này vẫn vững chắc sau khi sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu và nhất quán với lý thuyết Đa dạng và SMTT. Cuối cùng, những phát hiện này có giá trị thực tiễn đối với các nhà quản lý ngân hàng và cơ quan hoạch định chính sách trong việc điều hành hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là kênh tài chính quan trọng để tăng cường các nguồn lực đầu vào và tạo ra xung lực phát triển mới cho nền kinh tế. Mục đích của nghiên cứu là phác hoạ một bức tranh tổng thể về tác động của chuyển đổi số (CĐS) và chất lượng thể chế (CLTC) đến thu hút FDI vào Việt Nam ở các vùng phân vị khác nhau. Kết quả thu được từ phương pháp tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) cho thấy CĐS có tác động cùng chiều với FDI, trong khi tác động của CLTC là không rõ ràng. Đồng thời, kết quả từ phương pháp ước lượng phân vị dựa trên phân vị (QoQ) cũng chỉ ra CĐS có tác động mạnh đến FDI ở các vùng phân vị trên 50%, trong khi tác động của CLTC là yếu và trung bình trong toàn vùng phân vị. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách để nâng cao hiệu quả thu hút FDI cho Việt Nam trong thời gian tới.
Nghiên cứu này phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền (NGT) mặt của các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam. Hai biến kinh tế vĩ mô là bất định chính sách kinh tế toàn cầu và Việt Nam được sử dụng trong phân tích tác động bổ sung dựa trên mẫu nghiên cứu 337 doanh nghiệp phi tài chính đã phát hành chứng khoán ra công chúng được giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và thị trường công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCOM – Unlisted public company market) trong giai đoạn 2015–2021. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính bất định chính sách kinh tế Việt Nam, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, chính sách cổ tức và lưu chuyển tiền ròng tác động cùng chiều đến tỷ lệ NGT; trong khi đó, ảnh hưởng từ đòn bẩy tài chính, vốn lưu động phi tiền và quy mô doanh nghiệp góp phần làm suy giảm dự trữ tiền của doanh nghiệp.
Bài viết nghiên cứu về tác động của vốn đầu tư, lao động và hạ tầng đến tăng trưởng kinh tế Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) giai đoạn 2005–2021. Kết quả từ mô hình bình phương bé nhất (OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) đều cho thấy vốn Nhà nước (VNN) và vốn tư nhân (VTN) có tác động cùng chiều đến tổng sản phẩm nội địa (GDP) trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác động yếu đến tăng trưởng kinh tế. Điều này liên quan đến khả năng hấp thụ lan tỏa công nghệ và kinh nghiệm quản lý vốn FDI của từng khu vực. Ngược lại, biến lao động có tác động yếu đến GDP. Các biến đại diện cho hạ tầng như biến công nghệ thông tin (CNTT) được tính từ số lượng thuê bao điện thoại và internet không có tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế, trong khi biến vận chuyển hàng hóa (VCHH) gồm khối lượng VCHH đường bộ và đường thủy có tác động đến GDP.
Nghiên cứu này nhằm kiểm định lại mô hình tăng trưởng Mankiw–Romer–Weil (MRW) bằng việc sử dụng hồi quy phi tuyến Bayes với tiên nghiệm có thông tin đặc thù cho hệ số co giãn của vốn. Nghiên cứu cho thấy, cách tiếp cận Bayes ưu việt hơn so với cách tiếp cận tần suất khi linh hoạt kết hợp thông tin tiên nghiệm về các tham số với thông tin từ dữ liệu, nhờ đó, mang lại kết quả tin cậy hơn. Kết quả ước lượng lại mô hình tăng trưởng MRW cho thấy giá trị của hệ số co giãn của vốn thực thể (VTT) tương đồng qua ba nhóm nước nhưng nhỏ hơn so với kết quả của MRW, trong khi giá trị hệ số co giãn của vốn nhân lực (VNL) tương đồng trong hai mẫu nhóm nước không xuất khẩu dầu và nhóm nước trung gian, đồng thời cũng lớn hơn kết quả của MRW. Ngoài ra, hệ số co giãn của VNL cao hơn hệ số của VTT ở cả ba nhóm nước.
Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của vốn trí tuệ (VTT) đến cấu trúc tài chính (CTTC) của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM cổ phần) Việt Nam trong thời gian 2012–2022 thông qua dữ liệu từ báo cáo tài chính kiểm toán hàng năm của 26 ngân hàng và phương pháp hồi quy tuyến tính Bayes. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các biến có tác động ngược chiều đến CTTC là hiệu quả sử dụng vốn cấu trúc, hiệu quả sử dụng vốn con người, hiệu quả sử dụng vốn quan hệ, khả năng sinh lời và cấu trúc tài sản. Ngược lại, quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc. Nghiên cứu này không chỉ mang lại hiểu biết sâu sắc về VTT mà còn giúp ngân hàng đưa ra quyết định và chiến lược kinh doanh phù hợp để phát triển bền vững.
Nghiên cứu xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc quyết định tiếp tục sử dụng ứng dụng (SDUD) đặt đồ ăn trực tuyến. Phương pháp phân tích SEM trên Smart PLS được sử dụng trong bài nghiên cứu để đánh giá dữ liệu phản hồi từ 199 người dùng ứng dụng ShopeeFood tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM). Kết quả phân tích cho thấy các nhân tố: giá cả, ảnh hưởng xã hội, sự tiện lợi và tin cậy đóng vai trò then chốt trong việc tác động đến quyết định tiếp tục sử dụng dịch vụ ShopeeFood tại địa bàn TP. HCM. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm tác động đến việc tiếp tục sử dụng dịch vụ đặt đồ ăn trực tuyến và điều này giúp củng cố năng lực cạnh tranh của ShopeeFood trong ngành.
Nghiên cứu này đánh giá tác động của Thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam. Nhóm tác giả dựa trên khung phân tích của UNCTAD (2022) và các phương pháp thống kê mô tả, so sánh để phân tích và đánh giá về mức độ tác động của GMT đến thu hút FDI. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng GMT sẽ ảnh hưởng đến chiến lược thuế, chuyển dịch lợi nhuận, địa điểm đầu tư FDI và quy mô đầu tư FDI theo các mức độ và chiều hướng khác nhau. Từ những phân tích này, nhóm tác giả đề xuất một số khuyến nghị cho chính phủ Việt Nam nhằm hoàn thiện những chính sách liên quan đến GMT.
Nghiên cứu này đánh giá tác động của đô thị hóa đến bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam với dữ liệu của 63 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trong giai đoạn 2015-2019. Kết quả từ mô hình tác động cố định cho thấy tồn tại mối quan hệ chữ U ngược giữa mức độ đô thị hóa và bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam. Đô thị hóa trong giai đoạn đầu làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập, tuy nhiên sau khi vượt qua một ngưỡng nhất định, đô thị hóa làm giảm bất bình đẳng. Nghiên cứu này cho thấy bất bình đẳng ở các tỉnh của Việt Nam có xu hướng giảm xuống khi tỷ lệ đô thị hóa vượt qua ngưỡng khoảng 35,18%. Tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với kết quả ở một số nghiên cứu trên thế giới, cho thấy quá trình đô thị hóa ở Việt Nam có tính bao trùm khá cao. Tuy nhiên với tỷ lệ đô thị hóa đang tương đối thấp ở nhiều tỉnh thành, đẩy mạnh đô thị hóa trong thời gian tới có nguy cơ làm gia tăng bất bình đẳng ở Việt Nam. Kết quả có được hàm ý rằng các chính sách hướng tới giảm bất bình đẳng thu nhập cần phù hợp với giai đoạn đô thị hóa ở các địa phương.
Kết quả nghiên cứu này tương đối thống nhất với các kết quả nghiên cứu quốc tế cho nhóm quốc gia phát triển trong giai đoạn những năm 1970 đến trước những năm 2000, đồng thời khá khác biệt so với nghiên cứu trong bối cảnh một số quốc gia đang phát triển trên thế giới. Để thúc đẩy quá trình thực hiện mục tiêu giảm bất bình đẳng thu nhập, chính quyền địa phương cần thực hiện tăng cường phân cấp tài khóa qua tăng nguồn thu; tăng cường minh bạch và kiểm soát tham nhũng tại địa phương; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần đi kèm với chính sách phân phối thu nhập hợp lý, và kiểm soát gia tăng dân số nhằm thúc đẩy quá trình giảm bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam một cách hiệu quả.