Thông qua việc đánh giá thực trạng phát triển và tiếp cận nguồn vốn, bài viết đề xuất một số giải pháp thúc đẩy khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho các doanh nghiệp ngành CNHT tại Việt Nam trong thời gian tới.
Bài viết đưa ra một số góc nhìn về sức khỏe DN khi nhìn nhận về thực trạng thái thanh khoản của các NHTM để qua đó giúp độc giả nói chung, các DN nói riêng hiểu rõ hơn về nỗ lực của hệ thống ngân hàng dành cho nên kinh tế trong thời gian qua.
Bài viết chỉ ra kinh nghiệm tổ chức, sự lớn mạnh và những bước chuyển mình thay đổi của Hiệp hội Ngân hàng Anh, để từ đó đưa ra một số gợi ý nhằm phát huy hơn nữa vai trò, vị thế của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam.
Lịch sử phát triển lâu đời với tầm nhìn thời đại; cơ cấu tổ chức chuyên nghiệp, bao trùm, liên kết mạnh mẽ; các hoạt động chính hỗ trợ khu vực ngân hàng phát triển.
Bài viết này khái quát về tình hình phát triển trái phiếu xanh của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam, phân tích và đánh giá thực trạng tại một doanh nghiệp điển hình ở Việt Nam về phát hành trái phiếu xanh - Tập đoàn VinGroup và từ đó đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm phát triển thị trường vốn xanh nói chung và trái phiếu xanh nói riêng tại Việt Nam trong thời gian tới.
Nghiên cứu được tiến hành để đánh giá tác dụng hạ huyết áp và chống oxy hóa của Nano Rutin trên mô hình tăng huyết áp do L-NAME (N(G)-nitro-L-arginine-methyl ester) trên chuột cống trắng. Chuột cống trắng chủng Wistar được chia thành 5 lô, mỗi lô 12 con. Lô 1 chuột không gây tăng huyết áp. Với 4 lô còn lại chuột được gây tăng huyết áp bằng cách cho uống L-NAME (0,5% w/v trong nước cất) với liều 50 mg/kg/ngày trong 4 tuần liên tục. Trong đó, lô 2 chuột uống nước cất; lô 3 chuột được uống losartan 25 mg/kg/ngày; lô 4 chuột được uống Nano Rutin liều 280 mg/kg/ngày; lô 5 chuột được uống Nano Rutin liều 560 mg/kg/ngày. Thời gian uống thuốc thử là 4 tuần. Chuột được đo huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và nhịp tim tại thời điểm trước dùng thuốc, và sau dùng thuốc 1 tuần, 2 tuần, 3 tuần và 4 tuần. Nồng độ NO và các chỉ số đánh giá khả năng chống oxy hoá (SOD, GSH, MDA) trong huyết tương được đo tại thời điểm trước và sau 4 tuần.
Nghiên cứu nhằm đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn của viên nang cứng từ bài thuốc “Dạ dày HĐ” trên thực nghiệm. Nghiên cứu độc tính cấp của viên nang trên chuột nhắt bằng phương pháp Litchfield – Wilcoxon. Nghiên cứu độc tính bán trường diễn của viên nang trên chuột cống trắng theo hướng dẫn của WHO.
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ gan của viên nang Gydenphy có thành phần gồm quả me rừng, giảo cổ lam và thạch hộc tía trên mô hình chuột nhắt trắng gây tổn thương gan cấp bằng paracetamol. Chuột được cho uống sản phẩm nghiên cứu viên nang Gydenphy liều 576 mg/kg/ngày và liều 1152 mg/kg/ngày hoặc uống thuốc đối chứng silymarin liều 70 mg/kg/ngày hoặc uống nước cất liên tục trong 8 ngày. Đến ngày thứ 8, sau 1 giờ khi uống thuốc thử, tiến hành gây tổn thương tế bào gan bằng paracetamol liều 400 mg/kg. Các chỉ số đánh giá gồm có trọng lượng gan tương đối, hoạt độ AST, ALT trong huyết thanh chuột, hàm lượng malondialdehyd (MDA) và hàm lượng glutathion (GSH) trong dịch đồng thể gan, đồng thời đánh giá vi thể gan chuột.