Mô tả thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh rối loạn loạn thần cấp và nhất thời điều trị nội trú tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 và phân tích các yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 166 người bệnh được chẩn đoán rối loạn loạn thần cấp và nhất thời điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe tâm thần từ tháng 3/2025 đến tháng 6/2025 và sử dụng bộ công cụ PSQI để phân loại và đánh giá mức độ rối loạn giấc ngủ ở người bệnh. Kết quả: tỉ lệ có rối loạn giấc ngủ là 93,4%, trong đó mức độ nhẹ chiếm 33,7%, vừa chiếm 48,2%, và nặng chiếm 11,4%. Tỉ lệ người bệnh có rối loạn giấc ngủ trước khi khởi phát đợt loạn thần là 47,7%. Tuổi cao (p<0,01), sống một mình (p=0,025), có hoang tưởng (p=0,010) là các yếu tố làm tăng mức độ rối loạn giấc ngủ ở người bệnh rối loạn loạn thần cấp và nhất thời. Kết luận: Rối loạn giấc ngủ là một vấn đề thường gặp và có mối liên quan chặt chẽ với rối loạn loạn thần cấp và nhất thời.
Đánh giá mối liên quan giữa trị số urenitơ máu (BUN) với nguy cơ tử vong nội viện và giá trị tiên lượng của BUN trong tiên lượng kết cục ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu đoàn hệ, thực hiện tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ 01/2022–12/2024. Tất cả bệnh nhân ≥18 tuổi nhập viện vì đợt cấp COPD được phân tích. Sử dụng hồi quy logistic và phương pháp bắt cặp theo điểm xu hướng để xác định vai trò tiên lượng tử vong của BUN. Kết quả: Có 521 bệnh nhân được phân tích, trong đó 33 trường hợp (6,3%) tử vong nội viện. Nguy cơ tử vong tăng 1,4 lần khi BUN tăng mỗi 1 mmol/L (p<0,001). Giá trị AUC của BUN là 0,87 (KTC 95%: 0,81–0,93). Ngưỡng BUN 8,83 mmol/L giúp xác định nguy cơ tử vong tăng 16 lần (p<0,001), với độ nhạy 76% và độ đặc hiệu 85%. Kết luận: BUN là yếu tố tiên lượng độc lập tử vong nội viện ở bệnh nhân đợt cấp COPD. Ngưỡng 8,83 mmol/L có giá trị ứng dụng lâm sàng trong phân tầng nguy cơ và định hướng xử trí.
Mỗi năm, thế giới có đến hơn 5 triệu người chết vì chấn thương, chiếm 9% tổng số người chết. Trong đó, chấn thương ngực chiếm khoảng 10% số ca chấn thương phải nhập viện nhưng lại chiếm tới 25-50% số ca tử vong do chấn thương. Trong chấn thương ngực, gãy xương sườn là tổn thương phổ biến nhất, 10% bệnh nhân nhập viện sau chấn thương ngực kín có gãy một hoặc nhiều xương, tình trạng gãy xương sườn do chấn thương thường có khả năng đe dọa tính mạng khi xảy ra trên người cao tuổi, bệnh nhân có bệnh phổi nền, hoặc có mảng sườn di động (MSDĐ). Trên phương diện chẩn đoán hình ảnh học, hai cận lâm sàng được dùng để chẩn đoán là Xquang ngực thẳng và Chụp cắt lớp điện toán lồng ngực có dựng hình khung sườn. Chụp cắt lớp điện toán lồng ngực cung cấp nhiều thông tin về xương gãy cũng như tổn thương trong lồng ngực, nhưng hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá đầy đủ về vai trò cụ thể của phương tiện cận lâm sàng này trong việc chẩn đoán bệnh lý gãy xương sườn do chấn thương có mảng sườn di động. Mục tiêu: Nghiên cứu vai trò của chụp cắt lớp điện toán ngực (CT scan) trong chẩn đoán gãy xương sườn do chấn thương ngực kèm theo mảng sườn di động. Đối tượng và phương pháp: Thiết kế nghiên cứu tiến cứu mô tả. 40 bệnh nhân chấn thương ngực được chỉ định chụp CT scan ngực trong giai đoạn cấp tính tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/2021 đến 02/2021. Ghi nhận lâm sàng, kết quả CT scan, phẫu thuật, và theo dõi biến chứng. Kết quả: CT scan ngực phát hiện gãy xương sườn nhiều hơn 36,9% so với X-quang. Tỷ lệ chẩn đoán mảng sườn di động qua CT đạt 100%, trong khi X-quang chỉ phát hiện 64,7%. CT scan giúp phát hiện kèm theo tràn máu-màng phổi (84,7%), dập phổi (62,3%), tổn thương tim (4,2%) và tổn thương mạch lớn (2,1%). Kết luận: CT scan ngực cho hình ảnh chi tiết về tổn thương xương sườn và tổn thương ngực phức tạp, là công cụ hỗ trợ không thể thiếu trong chẩn đoán và quyết định điều trị.
Mục tiêu của nghiên cứu là nghiên cứu kích thước ngang xương hàm trên của bệnh nhân hạng III xương trên phim chụp cắt lớp vi tính chùm tia hình nón (Conebeam computed tomography- CBCT). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang được thực hiện trên phim CBCT của 37 bệnh nhân (23 nam và 14 nữ) có sai khớp cắn loại III xương tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, Trường đại học Y Hà Nội. Kích thước ngang XHT phía ngoài, Kích thước ngang phía trong được đo ở mức vòm miệng cứng, đỉnh mào xương ổ răng và chẽ chân răng của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên. Kết quả: Kích thước ngang XHT phía ngoài: mức khẩu cái cứng ở nam và nữ lần lượt là 66,3 4,9mm; 62,0 3,1mm. trung bình 64,7 4,7mm; mức XOR RHL1 ở nam và nữ lần lượt là 58,3 3,3mm; 55,0 2,6mm, trung bình 57,1 3,4mm; mức chẽ răng RHL1 là 63,2 3,7mm ở nam, 58,9 2,7mm ở nữ, trung bình 61,6 4,0mm; kích thước ngang nối điểm chia chẽ chân R RHL1 ở nam và nữ lần lượt là 48,0 2,7mm, 43,9 1,9mm, trung bình 46,5 3,1; Kích thước ngang XHT phía trong: mức XOR mặt trong RHL1 ở nam và nữ lần lượt là 37,7 3,7mm, 34,2 2,5mm, trung bình 36,4 3,7mm; mức chẽ R RHL1 ở nam và nữ lần lượt là 34,4 3,4mm, 31,3 1,7mm, trung bình 33,2 3,2mm. Kết luận: (1) Tất cả kích thước ngang XHT phía ngoài và phía trong có sự khác biệt nam nữ có ý nghĩa thống kê và ở nam giới rộng hơn ở nữ giới. (2) Ở mức chẽ răng của RHL1. Trung bình kích thước ngang xương hàm trên nối 2 điểm chẽ chân R RHL1 là 46,5 ± 3,1mm.
Đánh giá thực trạng lo âu của người bệnh ung bướu điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2025 và xác định một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được triển khai từ tháng 1/2025 đến tháng 7/2025 với 150 người bệnh ung bướu điều trị ngoại trú, sử dụng thang đo DASS-21 để đánh giá tình trạng lo âu. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh gặp các vấn đề về lo âu là 31,33%. Kết quả hồi quy logistic đơn biến cho thấy các yếu tố làm tăng khả năng lo âu gồm: người bệnh nữ (OR=2,91); sống ở thành thị (OR=2,79); trình độ học vấn từ trung cấp trở lên (OR=2,84); đang làm việc toàn thời gian (OR=2,52); không được tư vấn tâm lý đầy đủ sau khi được điều trị và về nhà (OR=2,94); có bệnh kèm theo (OR=3,05); điều trị bằng hóa trị liệu pháp (OR=2,1); gặp tác dụng phụ khi điều trị (OR=2,57). Kết luận: Bệnh viện cần tăng cường các hình thức tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho người bệnh, đặc biệt trong quá trình người bệnh điều trị ở nhà hoặc trong các lần tái khám.
Suy dinh dưỡng là tình trạng phổ biến ở bệnh nhân nặng phải thở máy xâm nhập, ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều trị. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân thở máy tại Hồi sức. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 86 bệnh nhân thở máy tại khoa Hồi sức ngoại khoa và ghép tạng – Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng thang điểm SGA (Subjective Global Assessment), chỉ số khối BMI (Body Mass Index), và một số chỉ số sinh hóa khi nhập viện và ra viện. Các đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị được ghi nhận. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SGA B, C) tăng từ 83,3% khi nhập viện lên 95% khi ra viện (p = 0,003). Cân nặng và BMI giảm rõ rệt (p < 0,001), trong khi các chỉ số sinh hóa không thay đổi có ý nghĩa. SGA khi nhập viện liên quan với tuổi, biến chứng nhiễm khuẩn đa kháng và kết quả điều trị (p < 0,05). Suy dinh dưỡng khi ra viện liên quan có ý nghĩa với tuổi cao (p = 0,001), thời gian trì hoãn nuôi ăn tiêu hóa (p < 0,001), và rối loạn chức năng thận. Kết luận: Suy dinh dưỡng rất phổ biến ở bệnh nhân thở máy và có xu hướng nặng lên trong quá trình nằm viện. Cần đánh giá và can thiệp dinh dưỡng sớm, đặc biệt qua đường tiêu hóa, để cải thiện kết cục điều trị.
Sốc sốt xuất huyết Dengue ở bệnh nhi dư cân, béo phì có biểu hiện lâm sàng thường nặng, diễn tiến phức tạp, nguy cơ cao xuất hiện tái sốc hoặc sốc kéo dài. Mục tiêu: Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tái sốc ở trẻ sốc sốt xuất huyết Dengue từ 2 đến 16 tuổi có dư cân, béo phì tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2022-2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích trên 90 bệnh nhi từ 2 đến 16 tuổi với chẩn đoán sốc sốt xuất huyết Dengue có dư cân, béo phì nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ từ 6/2022 đến 4/2024. Kết quả: Trẻ có biểu hiện đau bụng vùng gan, hiệu áp ≤10mmHg, ngày vào sốc ≤5, đau bụng vùng gan, gan to có nguy cơ tái sốc cao hơn các trẻ còn lại. Trẻ có Hct tăng sau 6 giờ truyền dịch, hạ albumin máu và có rối loạn đông máu có liên quan đến tái sốc ở trẻ sốc sốt xuất huyết Dengue có dư cân, béo phì. Kết luận: Các dấu hiệu cảnh báo sớm về lâm sàng như đau bụng vùng gan, hiệu áp kẹp, cùng các chỉ số cận lâm sàng bất lợi như Hct không đáp ứng sau bù dịch, hạ albumin máu và rối loạn đông máu là những yếu tố tiên lượng có giá trị, liên quan chặt chẽ đến nguy cơ tái sốc ở bệnh nhi sốc sốt xuất huyết Dengue dư cân, béo phì.
Táo bón là tình trạng rối loạn tiêu hóa thường gặp ở trẻ em. Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị táo bón chức năng ở trẻ em dưới 6 tuổi bằng phác đồ có sử dụng Lactulose tại Bệnh viện Nhi Thái Bình. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp trên 86 trẻ từ 01 đến 06 tuổi được chẩn đoán táo bón chức năng theo tiêu chuẩn ROME IV từ 01/06/2024 đến 31/05/2025. Kết quả: Tỉ lệ nam/nữ = 1,3, tuổi trung bình là 30,2 ±17,4 (tháng). Tỉ lệ trẻ khỏi táo bón sau 1, 2 và 3 tháng lần lượt là 65%, 70,1% và 79,1%. Tỉ lệ các triệu chứng gắng sức, đau hậu môn khi đại tiện, nứt kẽ hậu môn, són phân, tư thế giữ phân và tỉ lệ trẻ đi ngoài phân dạng táo giảm rõ rệt theo thời gian theo dõi, p < 0,05. Sau 3 tháng, không còn trẻ nào có phân loại 1 theo thang điểm Bristol. Số lần đại tiện trung bình/tuần tăng từ 1,7 ± 0,5 lần/tuần lên 3,9 ±1,7 lần sau 1 tháng, 5,0 ± 1,7 lần sau 2 tháng, và 5,7 ± 1,7 lần sau 3 tháng, p < 0,001. Kết luận: Phác đồ Lactulose với liều khởi đầu 1 ml/kg/ngày kết hợp với giáo dục sức khỏe mang lại hiệu quả cao như cải thiện triệu chứng, số lần đại tiện, tính chất phân, thói quen sinh hoạt và an toàn.
Khảo sát giá trị của thang điểm HAPS và BISAP trong tiên lượng mức độ nặng ở người bệnh viêm tụy cấp tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2024-2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 120 bệnh nhân được chẩn đoán viêm tụy cấp điều trị tại Trung tâm Tiêu hoá - Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11/2024 đến tháng 06/2025. Thang điểm HAPS và BISAP được đánh giá trong vòng 24 giờ đầu. Kết quả: Thang điểm HAPS có giá trị tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp ở mức độ khá, với diện tích dưới đường cong ROC (AUC) là 0,752 (KTC 95%= 0,672 – 0,878). Tại điểm cut-off HAPS=3 điểm, độ nhạy đạt 61,1%, độ đặc hiệu 84,3%, giá trị tiên đoán dương 49,7% và giá trị tiên đoán âm 92,5%. Thang điểm BISAP có giá trị tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp ở mức độ tốt, với diện tích dưới đường cong ROC (AUC) là 0,928 (KTC 95%= 0,878 – 0,978). Tại điểm cut-off BISAP=3 điểm, độ nhạy đạt 81,3%, độ đặc hiệu 90,4%, giá trị tiên đoán dương (PPV) 66,5%, và giá trị tiên đoán âm 96,9%. Kết quả có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Kết luận: Thang điểm BISAP có giá trị tốt hơn thang điểm HAPS trong tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp, đặc biệt là trong giai đoạn 24 giờ đầu nhập viện.
Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kéo dài giảm đau sau phẫu thuật lấy thai của phương pháp gây tê cơ vuông thắt lưng hai bên bằng ropivacain 0,375% có hoặc không phối hợp dexamethasone. Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, trong khoảng thời gian từ 12/2024 đến 08/2025, trên 60 sản phụ tuổi từ 18 đến 50, phân độ ASA II, cân nặng 50 kg, đường mổ ngang trên vệ, được gây tê tuỷ sống để phẫu thuật lấy thai, gây tê cơ vuông thắt lưng sau mổ để giảm đau. Các bệnh nhân (BN) được chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm 30 BN: nhóm 1 sử dụng 30ml ropivacain 0,375% phối hợp 8mg dexamethasone (RD), nhóm còn lại sử dụng 30ml ropivacain 0,375% đơn thuần (R). Kết quả: Ở nhóm RD, BN bắt đầu cần morphine muộn hơn, và tổng lượng morphine dùng trong 24 giờ ít hơn so với nhóm R. Điểm VAS khi nghỉ ngơi và vận động qua các thời điểm có xu hướng giảm so với thời điểm trước khi gây tê. Đặc biệt VAS tại thời điểm H12 và H18 sau gây tê nhóm RD thấp hơn nhóm R, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tần số tim và huyết áp trung bình ở cả 2 nhóm có xu hướng giảm so với thời điểm H0, tuy nhiên đều dao động trong giới hạn sinh lý. Các BN đều hài lòng và không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng nào.