Bài nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu về hình thức, mục đích, ý nghĩa của hành động (HĐ) hỏi trực tiếp tìm thông tin và những hành động (HĐ) đáp tương ứng qua 203 cặp thoại. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những HĐ hỏi trực tiếp tìm thông tin chủ yếu được sử dụng để hỏi về sự tình, lí do, nơi chốn, thời gian...
Bài viết này đối chiếu câu trích dẫn trong tin tức báo chí tiếng Hàn và tiếng Việt, ngữ liệu khảo sát là các bản tin chính trị trên trang báo điện tử Chosun Ilbo của Hàn Quốc và trang Dân trí của Việt Nam. Nội dung nghiên cứu nhằm chỉ ra điểm giống và khác nhau về xu hướng sử dụng câu trích dẫn trực tiếp và gián tiếp, hình thức, cách ghi nguồn và động từ nói năng.
Phân tích và so sánh ẩn dụ “làn sóng” trong báo chí Việt Nam và “Hallyu” trong báo chí Hàn Quốc dựa trên phương pháp định tính và lí thuyết ẩn dụ ý niệm (Lakoff & Johnson, 1980). Nghiên cứu tập trung phân tích bản chất ẩn dụ, sự khác biệt trong cách tri nhận và ý nghĩa văn hóa hàm chứa bên trong. Qua việc phân tích đối chiếu, bài viết góp phần làm sáng tỏ sự khác biệt trong tư duy văn hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc, đồng thời cung cấp cơ sở ngôn ngữ cho hoạt động dịch thuật và truyền thông liên văn hóa.
Dựa trên các lí thuyết giảng dạy ngoại ngữ của CEFR, lí thuyết thể loại ngôn bản của Reiß và ngữ liệu một số giáo trình tiếng Đức hiện hành, nghiên cứu này đưa ra một số nguyên tắc quan trọng đối với loại hình ngôn bản trong việc thiết kế bài tập chuyển ngữ chức năng tiếng Đức.
Cung cấp những hiểu biết thực tiễn về hiệu quả của hình thức đánh giá trình diễn thông qua hoạt động làm poster trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ. Đồng thời, nghiên cứu cũng đóng góp vào việc mở rộng và cải thiện các phương pháp kiểm tra đánh giá trong giảng dạy ngôn ngữ, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ.
Làm rõ nghĩa của từ “tay” trong tiếng Việt và “손 ” trong tiếng Hàn. So sánh các nghĩa của từ “tay” trong tiếng Việt và tiếng Hàn; từ đó, làm rõ các điểm tương đồng và khác biệt. Đề xuất ứng dụng thực tiễn trong dạy và học tiếng Hàn, trong giao tiếp liên văn hóa Việt-Hàn.
Phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa của thuật ngữ thực thi pháp luật trên biển ngành cảnh sát biển trong tiếng Anh và tiếng Việt. Thông qua hướng tiếp cận của ngữ nghĩa học chuyên ngành và ngôn ngữ học đối chiếu, nghiên cứu có mục đích nhận diện các mẫu hình ngữ nghĩa đặc trưng, đồng thời lí giải cách chúng phản ánh các khía cạnh pháp lí, nghiệp vụ và văn hóa trong giao tiếp chuyên môn của lực lượng cảnh sát biển.
Phân tích tình hình sử dụng, lỗi sử dụng và thứ tự thụ đắc các nghĩa của động từ năng nguyện 要. Kết quả cho thấy, 要 2 được sử dụng nhiều nhất, kế đến lần lượt là 要 1, 要 3, 要 4, ít sử dụng nhất là 要 5; 要 5 có tỉ lệ sử dụng đúng cao nhất, kế đến lần lượt là 要 2, 要 1, 要 4, tỉ lệ sử dụng đúng thấp nhất là 要 3.
Khảo sát, đối chiếu và phân tích sự chuyển hóa từ loại của một số từ vựng tiếng Hán hai âm tiết với từ Hán Việt tương ứng trong tiếng Việt nhằm làm sáng tỏ các dạng thức chuyển loại của từ vựng tiếng Hán sang từ Hán Việt tương ứng sau khi du nhập vào tiếng Việt. Từ đó nâng cao hiệu quả học tập tiếng Việt và tiếng Hán.
Phân tích mối quan hệ “tài - mệnh” trong Truyện Kiều thông qua lăng kính của lí thuyết Pha trộn ý niệm. Bằng cách xem xét cách thức mà Nguyễn Du đã kết hợp các không gian đầu vào của “tài” (tài năng) và “mệnh” (số mệnh) trong không gian pha trộn, nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ cấu trúc ý nghĩa phức tạp của tác phẩm. Mặc dù đã có nhiều công trình bàn về chủ đề “tài - mệnh” trong Truyện Kiều, vẫn còn tồn tại một khoảng trống nghiên cứu đáng kể đối với chủ đề này.