Bất sản động mạch cảnh trong là một dị tật mạch máu bẩm sinh rất hiếm gặp, có thể làm thay đổi huyết động não và liên quan đến sự hình thành cũng như vỡ phình mạch nội sọ. Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nam 35 tuổi, tiền sử khỏe mạnh, vào viện vì xuất huyết dưới nhện do vỡ phình động mạch thông trước. Khảo sát hình ảnh mạch não cho thấy sự vắng mặt động mạch cảnh trong trái, kèm theo không có ống động mạch cảnh trái trên phim cắt lớp vi tính nền sọ và dựng hình mạch. Hệ tuần hoàn não được bù trừ theo kiểu kết hợp type A và B theo phân loại Lie, trong đó động mạch não trước trái được cấp máu qua động mạch thông trước, còn động mạch não giữa trái nhận máu chủ yếu từ hệ tuần hoàn sau qua động mạch thông sau và một phần từ động mạch thông trước. Bệnh nhân được chỉ định nút mạch. Sau 1 tháng theo dõi, tình trạng lâm sàng ổn định và không ghi nhận túi phình tồn dư trên hình ảnh học.
Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất, gây ra sự suy giảm chức năng xã hội và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 214 người bệnh khám và điều trị rối loạn lo âu tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, từ tháng 7/2025 đến tháng 12/2025 nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống và mối liên quan giữa điểm chất lượng cuộc sống và mức độ lo âu. Nghiên cứu được tiến hành thông qua thăm khám lâm sàng và bệnh án nghiên cứu, trong đó có thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống SF-36 và thang điểm đánh giá lo âu Zung.
Nghiên cứu cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện, trên 106 bệnh nhân viêm, loét dạ dày – tá tràng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp từ 01/01/2024 đến 31/03/2024 nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm Helicobacter pylori (HP) ở bệnh nhân này. Nghiên cứu thu thập thông tin về đặc điểm nhân khẩu học, thói quen ăn uống, sinh hoạt, vệ sinh, sử dụng thuốc và tiền sử bệnh. Thống kê mô tả với biến định lượng và định tính, test X2 hoặc Fisher’s exact test để xác định các yếu tố liên quan.
U tế bào mầm nội sọ biểu hiện 2 vị trí (bifocal) là nhóm bệnh hiếm gặp với khối u biểu hiện đồng thời ở vùng tuyến tùng và trên yên. Nghiên cứu hồi cứu trên 15 BN “bifocal” được điều trị hóa chất cảm ứng theo sau là xạ trị dựa trên phân tầng nguy cơ tại Bệnh viện K giai đoạn 2020 – 2024. Về mô bệnh học, 60% là germinoma và 40% là non-germinoma. Các BN đều là nam giới, tuổi trung bình 17 ± 5,8. Tại thời điểm chẩn đoán, 53,3% BN có đái tháo nhạt và 53,3% có tổn thương di căn.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 130 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh từ tháng 06/2025 đến tháng 02/2026 nhằm khảo sát nồng độ CA-125 huyết thanh và phân tích một số yếu tố liên quan.
Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu trên 132 bệnh nhân xơ gan mất bù cấp điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận từ 06/2025 đến 1/2026 ghi nhận tỷ lệ suy gan cấp trên nền mạn là 44,7%, không có trường hợp tử vong nội viện. So với nhóm không ACLF, nhóm ACLF có bilirubin toàn phần, creatinin, kali, AST, ALT, INR, điểm CLIF-C OF và điểm CLIF-C ACLF cao hơn, trong khi natri và albumin thấp hơn có ý nghĩa thống kê. Ở nhóm bệnh nhân ACLF, các trường hợp không cải thiện sau điều trị có bạch cầu, INR, điểm CLIF-C OF và điểm CLIF-C ACLF cao hơn, đồng thời albumin thấp hơn so với nhóm cải thiện. Thang điểm CLIF-C ACLF có giá trị dự báo không cải thiện sau điều trị với điểm cắt tối ưu 58, độ nhạy 83,3% và độ đặc hiệu 68,3%.
Tổn thương thận cấp (AKI) là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân ung thư, có thể gây gián đoạn điều trị và tăng nguy cơ nhập viện, tử vong. Tổng quan tường thuật này nhằm làm rõ dịch tễ, cơ chế, kiểu hình tổn thương, yếu tố nguy cơ, dự phòng và xử trí AKI liên quan thuốc điều trị ung thư toàn thân. Độc tính thận thay đổi theo từng nhóm thuốc: cisplatin chủ yếu gây tổn thương ống thận phụ thuộc liều; methotrexate liều cao gây bệnh thận do kết tinh; ifosfamide liên quan độc tính ống lượn gần và hội chứng Fanconi. Thuốc nhắm trúng đích có thể gây protein niệu, vi huyết khối mạch máu hoặc tăng creatinin giả, trong khi liệu pháp miễn dịch thường liên quan viêm kẽ thận cấp. Các biện pháp dự phòng quan trọng gồm phân tầng nguy cơ, tối ưu dịch – điện giải, hạn chế thuốc độc thận không cần thiết và theo dõi sớm chức năng thận. Nhận diện sớm cơ chế và kiểu hình AKI giúp cá thể hóa xử trí, duy trì điều trị và cải thiện kết cục lâm sàng.
Nghiên cứu đánh giá độc tính cấp và tác dụng cải thiện khả năng sinh sản của chế phẩm phối hợp chứa myo-inositol (S-FEMME) trên động vật thực nghiệm. Độc tính cấp được xác định trên chuột cống Wistar theo OECD 423. Tác dụng cải thiện sinh sản được đánh giá trên chuột nhắt cái Swiss trong 30 ngày. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm tỷ lệ mang thai, số lượng phôi làm tổ và nồng độ estrogen huyết thanh.
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm S-Men lên sự phát triển thế hệ chuột F1 sinh ra từ chuột nhắt đực bị suy giảm sinh sản bởi natri valproat (NVP). Chuột đực trưởng thành chủng Swiss được gây mô hình bằng NVP liều 500 mg/kg/ngày, sau đó cho uống S-Men liều 1096 mg/kg/ngày và 2192 mg/kg/ngày trước khi ghép cặp với chuột cái khỏe mạnh. Các chỉ tiêu đánh giá trên thế hệ F1 gồm: tỷ lệ mang thai, tổng số thai, tỷ lệ thai sống/chết, số lượng chuột con, tỷ lệ sống và sự thay đổi trọng lượng sau sinh.
Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó kiến thức của người chăm sóc đóng vai trò quan trọng trong phát hiện và xử trí bệnh. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 119 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc viêm phổi tại khoa Nhi – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, từ tháng 6 đến tháng 9/2025, nhằm mô tả kiến thức của bà mẹ về viêm phổi. Kết quả cho thấy 77,3% bà mẹ có kiến thức “ĐẠT”, cao nhất là kiến thức về bệnh viêm phổi (90,8%), tiếp đến là dự phòng (70,6%), và thấp nhất là chăm sóc trẻ mắc viêm phổi (52,9%). Tỷ lệ nhận biết đúng nguyên nhân, yếu tố nguy cơ, các dấu hiệu và triệu chứng thường gặp đều trên 90%, nhưng nhận biết dấu hiệu nặng như rút lõm lồng ngực còn thấp (69,7%). Khi trẻ có dấu hiệu bệnh, có 80,7% bà mẹ chọn đưa trẻ đến bệnh viện, 47,9% đến trạm y tế gần nhất và 28,6% đến phòng khám tư; trong khi 7,6% mua thuốc tại nhà thuốc và 0,8% để trẻ tự hết.