Lao phổi vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Các phương pháp chẩn đoán truyền thống, như soi kính hiển vi AFB, có độ nhạy thấp, đặc biệt khi tải lượng vi khuẩn trong mẫu BAL rất ít. Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá giá trị chẩn đoán của xét nghiệm Xpert MTB/RIF trong việc phát hiện lao phổi ở 125 bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh tại bệnh viện Đa khoa Đồng Nai. Đối tương và phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu thử nghiệm chẩn đoán, được thực hiện trên 125 bệnh nhân nghi ngờ mắc lao phổi có chỉ định nội soi phế quản lấy mẫu dịch rửa phế quản phế nang (BAL) tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai từ tháng 4/2024 đến tháng 9/2024. Mẫu BAL được xét nghiệm bằng soi kính hiển vi AFB, Xpert MTB/RIF và nuôi cấy MGIT (tiêu chuẩn vàng). Giá trị chẩn đoán của Xpert MTB/RIF được đánh giá thông qua độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tính (PPV) và giá trị tiên đoán âm tính (NPV), đồng thời so sánh với phương pháp soi kính hiển vi AFB.
Xuất huyết tiêu hóa (XHTH) do vỡ dãn tĩnh mạch thực quản (TMTQ) là biến chứng nặng và thường gặp ở trẻ em tăng áp lực tĩnh mạch cửa (TAC). Có 75 bệnh nhân XHTH do vỡ dãn TMTQ được thực hiện 88 đợt thắt thun. Tuổi trung vị: 6 tuổi, cân nặng nhỏ nhất 8 kg. 8% bệnh nhân được thực hiện nội soi cấp cứu; 26,7% nội soi trong vòng 24-48 giờ; 65,3% nội soi dự phòng. Phân độ dãn TMTQ: đa số là F3 (81 %); dấu đỏ 92%; dãn TM phình vị 47%; bệnh dạ dày TAC 92%. Hầu hết bệnh nhân (82,6%) chỉ cần thực hiện 1 đợt thắt thun; 2,7% cần 3 đợt thắt thun trong 6 tháng. Khoảng cách TB giữa 2 đợt soi là 4,4 ± 1,7 tháng. Biến chứng 2,3%; không có biến chứng nặng gây tử vong. 98,7 % kiểm soát XHTH sau 6 tháng.
Ung thư cổ tử cung là một bệnh ung thư phổ biến đứng thứ hai ở nữ giới về tỷ lệ mắc cũng như tử vong và nguyên nhân được xác định là do vi rút HPV. Ung thư cổ tử cung có thể phòng ngừa được qua việc tiêm phòng vắc-xin, tuy nhiên tỷ lệ tiêm ngừa còn hạn chế. Vì vậy, việc xác định rào cản khi tiêm vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung về các yếu tố liên quan là cần thiết. Mục tiêu: Xác định điểm trung bình rào cản khi tiêm vắc-xin ngừa HPV của sinh viên nữ khoa Điều dưỡng – Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện từ tháng 03/2024 đến tháng 04/2024 trên 166 sinh viên nữ, Khoa Điều dưỡng- Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi khảo sát online dưới dạng Microsoft Form tự điền. Phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 với p <0,05 được xem có ý nghĩa thống kê. Kết quả: Điểm trung bình rào cản khi tiêm vắc-xin ngừa HPV của sinh viên nữ khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học là 3,87 ± 2,6. Tỷ lệ sinh viên nữ đã thực hiện tiêm vắc-xin ngừa HPV là 39,2%. Tỷ lệ sinh viên nữ có kiến thức tốt và thái độ tốt về vắc-xin ngừa HPV là 66,9% và 86,1%. Có 7 yếu tố liên quan đến rào cản khi tiêm vắc xin ngừa HPV của sinh viên là năm học, chuyên ngành, xếp loại, điều kiện kinh tế, kiến thức), thái độ và thực hiện tiêm vắc xin ngừa HPV. Kết luận: Điểm trung bình rào cản về vắc-xin ngừa HPV là tương đối cao. Tỷ lệ sinh viên thực hiện tiêm vắc-xin cải thiện hơn so với nghiên cứu trước, tỷ lệ sinh viên nữ có kiến thức tốt, thái độ tốt tương đối cao và có nhiều yếu tố liên quan đến rào cản khi tiêm ngừa HPV.
Đánh giá hiệu quả kháng khuẩn Enterococcus faecalis của các dung dịch nano bạc AgNPs 62,5 ppm, Sodium hypoclorit 3% và Chlorhexidine 2 % trong bơm rửa nội nha. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 44 chân răng cối nhỏ hàm dưới một ống tủy được chuẩn hóa kích thước ống tủy tương đồng, hấp vô khuẩn, bít kín lỗ chóp. Hoạt hóa vi khuẩn đông khô E. faecalis, nuôi cấy 21 ngày trong các chân răng. Bơm rửa ống tủy các chân răng với dung dịch nước muối 0,9% (nhóm 1); AgNPs 62,5 ppm (nhóm 2); NaOCl 3 % (nhóm 3); CHX 2 % (nhóm 4), bơm rửa 2ml dung dịch trong 1 phút. Sau đó, lấy mẫu vi khuẩn trong ống tủy để xét nghiệm Real-time PCR xác định chỉ số Ct. Kết quả: Chỉ số Ct trung bình các nhóm 1, 2, 3, 4 lần lượt là 21,82; 22,33; 25,94 và 24,95. Chỉ số Ct ở nhóm bơm rửa nước muối khác biệt có ý nghĩa thống kê với các nhóm bơm rửa NaOCl 3 %, CHX 2 % (p <0,05), nhưng không khác nhóm bơm rửa nano bạc. Kết luận: Bơm rửa nội nha với 2ml dung dịch NaOCl 3 % hoặc CHX 2 % trong 1 phút có hiệu quả diệt khuẩn E. faecalis tốt hơn dung dịch NaCl 0,9% hoặc AgNPs 62,5 ppm.
Can thiệp nội mạch đặt stent graft là phương pháp được khuyến cáo sử dụng điều trị cho những trường hợp bóc tách động mạch chủ (BTĐMC) Stanford B có biến chứng hoặc không biến chứng nhưng có các đặc điểm nguy cơ cao. Sau can thiệp, hình thái BTĐMC Stanford B biến đổi không đồng nhất ở những thời điểm khác nhau, và những biến đổi này cần được làm rõ thêm. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá, so sánh những đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) của BTĐMC Stanford B trước và sau can thiệp nội mạch. Sau can thiệp nội mạch điều trị BTĐMC Stanford B, thành ĐMC bóc tách có những biến đổi tích cực. Tuy nhiên, sự biến đổi này không đồng nhất ở những đoạn ĐMC khác nhau và khác biệt ở những thời điểm khác nhau sau can thiệp. Vì vậy, chúng tôi khuyến nghị những trường hợp BTĐMC Stanford B cần được theo dõi chặt chẽ sau đặt stent graft điều trị.
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là nguyên nhân chính gây tàn phế và tử vong trên toàn cầu. Tuy nhiên, tỷ lệ người bệnh mắc COPD tuân thủ dùng thuốc chưa cao với nhiều yếu tố liên quan khác nhau. Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc và một số yếu tố liên quan ở người bệnh COPD điều trị ngoại trú tại bệnh viện Lao và bệnh Phổi tỉnh Trà Vinh năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 196 người bệnh điều trị ngoại trú bằng phỏng vấn trực tiếp với Bộ câu hỏi tuân thủ dùng thuốc (General Medication Adherence Scale). Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc của người bệnh COPD là 77,0%. Qua phân tích hồi qui logistic đa biến, tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc tăng liên quan đến niềm tin về sự cần thiết điều trị bằng thuốc ở mức độ cao (Adjusted Odds Ratio - AOR=10,7, 95% KTC: 2,9-38,7). Tuy nhiên, tác dụng phụ khi dùng thuốc liên quan đến giảm tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc (AOR=0,1, 95% KTC: 0,03-0,3). Kết luận: Người bệnh COPD nên được tư vấn sức khoẻ về sự cần thiết chế độ điều trị và hướng dẫn chăm sóc các tác dụng phụ của thuốc để cải thiện tuân thủ dùng thuốc.
Stress là phản ứng tự nhiên của cơ thể trước các tình huống khó khăn, nhưng cách ứng phó với stress đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc. Chánh niệm – khả năng nhận thức không phán xét về các sự kiện bên trong và bên ngoài – đã được chứng minh là có hiệu quả trong quản lý stress. Khảo sát mối liên quan giữa đặc điểm chánh niệm với cách thức ứng phó stress ở sinh viên khoa Y Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu cho thấy chánh niệm có mối liên quan đến cách thức ứng phó với stress ở sinh viên Y khoa, trong đó mức độ chánh niệm tương quan thuận với cách ứng phó tập trung vào nhiệm vụ và tương quan nghịch với xu hướng đổ lỗi. Đặc biệt, khía cạnh Quan sát giúp tăng cường khả năng ứng phó tích cực, trong khi Không phán xét và Không phản ứng góp phần giảm thiểu phản ứng tiêu cực.
Phẫu thuật cắt gan có thể gây bất thường đông máu sau mổ với kéo dài INR, aPTT và giảm tiểu cầu. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu khảo sát sự thay đổi chức năng đông máu sau phẫu thuật cắt gan. Bất thường đông máu sau cắt gan xảy ra phổ biến. Tình trạng này thường tạm thời với INR kéo dài và giảm số lượng tiểu cầu, đạt đỉnh ở hậu phẫu ngày 2.
Đứt kín hệ thống gân duỗi gối trên bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối là một thách thức phẫu thuật do chất lượng gân kém, co rút gân và nhiều bệnh lí nền. Kết quả điều trị không chỉ phụ thuộc vào phục hồi tổn thương giải phẫu mà còn giảm thiểu biến chứng có thể xảy ra. Phục hồi vị trí xương bánh chè về bình thường (nhóm gân tứ đầu đùi 94,1%, nhóm gân bánh chè 85,7%. Phục hồi duỗi gối ở tất cả các trường hợp. Sức cơ duỗi gối đạt từ bậc 4 (33,3%) đến bậc 5 (66,7%). Chức năng theo Lysholm từ khá, tốt đến rất tốt. Tỉ lệ mất duỗi 37,5% với biên độ mất duỗi trung bình 4,2 ± 4,50, tỉ lệ mất gấp gối 62,5% và biên độ mất gấp trung bình 17,4 ± 20,90. Không có biến chứng nhiễm trùng, đứt lại. Thời gian theo dõi trung bình 18,6 ± 15,7 tháng. Phẫu thuật phục hồi gân hệ thống duỗi gối ở các bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối an toàn và hiệu quả với chương trình phục hồi chức năng thích hợp.
Thiếu máu mạn là bệnh đồng mắc thường gặp ở bệnh nhân cao tuổi mắc hội chứng vành cấp. Thiếu máu có liên quan đến tiên lượng xấu hơn của nhóm bệnh nhân này. Nghiên cứu thu thập được 318 trường hợp. Tuổi trung bình là 72, 1/3 trường hợp bệnh nhân ≥ 75 tuổi; tỉ lệ nam gấp hai lần nữ. Tỉ lệ thiếu máu mạn là 44,3%. Thiếu máu mức độ nhẹ chiếm đa số 57,5%, mức độ trung bình 39% và mức độ nặng là 3,5%. Nồng độ hemoglobin trung bình ở nhóm thiếu máu là 10,9 ± 1,2 mg/dL. Nhóm thiếu máu có tỉ lệ hút thuốc lá là 24,8%, tăng huyết áp là 80,9%; đái tháo đường 48,9%; béo phì 30,5%, bệnh thận mạn 29,8% và suy yếu (CFS) là 74,2%. Tỉ lệ các thể bệnh trong hội chứng vành cấp tương đương nhau. Phân độ suy tim Killip ≥ II là 21,3%, điểm Grace ≥ 140 chiếm 41,8% và tỉ lệ can thiệp mạch vành qua da là 88,7%. Tử vong nội viện ở nhóm thiếu máu là 2,8%. Tỉ lệ thiếu máu mạn ở bệnh nhân cao tuổi mắc hội chứng vành cấp là khá cao chiếm 44,3%; thiếu máu mức độ nhẹ chiếm đa số 57,5%.