CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đổi mới tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam / Trần Hồng Đạt // .- 2024 .- Số 827 - Tháng 6 .- Tr. 93-95 .- 657
Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn và đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế đất nước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, dẫn đến phải đóng cửa, phá sản mà một trong những nguyên cơ bản là do công tác kế toán quản trị chưa được chú trọng đúng mức. Bài viết trao đổi về tầm quan trọng của việc tổ chức công tác kế toán quản trị cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như những khó khăn, thách thức hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả kiến nghị một số giải pháp nhằm đổi mới công tác kế toán quản trị, góp phần thực hiện tốt được các chức năng quản trị trong doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng.
2 Trao đổi về thận trọng kế toán và hàm ý cho Việt Nam / Nguyễn Thị Kim Oanh // .- 2024 .- Số 827 - Tháng 6 .- Tr. 89-92 .- 657
Trong nhiều thập kỷ nghiên cứu và thực hành kế toán, các nhà nghiên cứu và cơ quan ban hành chuẩn mực kế toán vẫn tiếp tục đưa ra các định nghĩa và cố gắng xây dựng định nghĩa chung được chấp nhận rộng rãi về thận trọng kế toán. Các định nghĩa về thận trọng kế toán phần lớn đề cập đến hệ quả của sự bất cân xứng trong việc xác minh và ghi nhận giữa lợi ích kinh tế (tin tốt, tài sản hay lợi nhuận) và tổn thất kinh tế (tin xấu, nợ phải trả hay chi phí) trong các điều kiện không chắc chắn. Tuy nhiên, định nghĩa về thận trọng trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện nay còn giới hạn ở nguyên tắc thận trọng trong kế toán thay vì khái niệm thận trọng kế toán được bàn luận trong các chuẩn mực quốc tế và các nghiên cứu trước đây. Trên cơ sở nghiên cứu, thảo luận về các vấn đề liên quan đến thận trọng kế toán, nhóm tác giả đưa ra hàm ý cho Việt Nam.
3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý thuế đối với doanh nghiệp và giải pháp cho Việt Nam / Ngô Thị Hường // .- 2024 .- Số 827 - Tháng 6 .- Tr. 100-103 .- 657
Thời gian qua, công tác quản lý thuế tại Việt Nam đã có những cải tiến và đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, ngành Thuế Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh đòi hỏi cải cách thủ tục cải cách hành chính mạnh mẽ và hoạt động hiệu quả hơn. Bài viết chỉ ra hiện trạng của công tác quản lý thuế tại Việt Nam, đồng thời giới thiệu một số kinh nghiệm trong lĩnh vực này từ các quốc gia trong khu vực châu Á, qua đó đề xuất giải pháp và khuyến nghị để hoàn thiện công tác quản lý thuế trong nước.
4 Tác động của đầu tư xanh và số hóa đến tăng trưởng xanh tại các quốc gia Châu Á - Thái Bình Dương / Ngô Thị Phương Trang, Phạm Thị Việt Hà, Nguyễn Thu Hương, Phạm Hương Giang, Nguyễn Thị Xuân Mùi // .- 2024 .- Số 827 - Tháng 6 .- Tr. 109-112 .- 330
Bài viết này nghiên cứu về tác động của đầu tư xanh và số hóa đến tăng trưởng xanh tại 22 quốc gia thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Thông qua mô hình tự phân phối độ trễ hồi quy ARDL, nghiên cứu sử dụng các biến chính bao gồm: Đầu tư xanh, Số hóa. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng 5 biến kiểm soát gồm: Phát triển tài chính, Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Lực lượng lao động, Khả năng kiểm soát tham nhũng, Quy mô kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu tư xanh và số hóa tác động tích cực đến tăng trưởng xanh. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra một số hàm ý chính sách cho các nước Châu Á - Thái Bình Dương trong thời gian tới.
5 Tăng trưởng xanh tại trung quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam / Nguyễn Thị Hồng // .- 2024 .- Số 827 - Tháng 6 .- Tr. 113-115 .- 330
Phát triển kinh tế tại các quốc gia luôn đòi hỏi nhu cầu năng lượng. Khi nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên thì áp lực lên môi trường cao hơn so với nền kinh tế ít phụ thuộc vào tài nguyên. Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, các quốc gia nên thúc đẩy tăng trưởng xanh nhằm tối ưu hóa hoạt động sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động này ít phụ thuộc vào tài nguyên. Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển tăng trưởng xanh tại Trung Quốc, qua đó rút ra bài học, đề xuất giải pháp thúc đẩy tăng trưởng xanh cho Việt Nam thời gian tới.
6 Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh ở Hàn Quốc / Cấn Thị Thu Hương // .- 2024 .- Số 827 - Tháng 6 .- Tr. 116-119 .- 330
Hàn Quốc là quốc gia phát triển mạnh về công nghiệp, tuy nhiên, để kinh tế phát triển bền vững, nền nông nghiệp cũng đóng góp quan trọng. Những năm gần đây, Hàn Quốc thực hiện nhiều chiến lược, chính sách phát triển ngành Nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, với tỷ lệ đầu tư nghiên cứu, phát triển cho lĩnh vực này ngày càng cao. Nông nghiệp công nghệ cao tại Hàn Quốc phát triển với nhiều bước tiến vượt trội nhờ thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0.
7 Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu trái cây sang thị trường Châu Âu / Nhan Cẩm Trí // .- 2024 .- Số 827 - Tháng 6 .- Tr. 120-124 .- 330
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu trái cây vào thị trường châu Âu (EU) của doanh nghiệp Việt Nam. Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng trái cây vào thị trường đầy tiềm năng này trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam hội nhập mạnh mẽ, mở rộng thương mại qua Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA).
8 Hiệu ứng toàn cầu hóa kinh tế đối với tăng trưởng kinh tế xanh tại Đông Nam Á / Nguyễn Quang Minh // .- 2024 .- Số 827 - Tháng 6 .- Tr. 124-127 .- 330
Bài viết xem xét hiệu ứng toàn cầu hóa kinh tế đối với tăng trưởng kinh tế xanh tại một số quốc gia Đông Nam Á. Nghiên cứu sử dụng mô hình nghiên cứu Pooled OLS, FGLS, các quốc gia được đề cập gồm: Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Philippines giai đoạn từ 2000 đến 2022. Nghiên cứu cho thấy, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, số lượng các nhà nghiên cứu, sự bao phủ mạng di động có ảnh hưởng ít nhiều tới tăng trưởng kinh tế xanh ở các mức ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, yếu tố ngoại thương lại không có ý nghĩa tác động trong việc tăng trưởng kinh tế xanh. Chính phủ các nước có thể tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, gia tăng các nhà nghiên cứu nhằm phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế xanh.
9 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại ngân hàng phát triển Lào / Đặng Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tình, Huỳnh Minh Đoàn // .- 2024 .- Số 827 - Tháng 6 .- Tr. 128-131 .- 332.04
Nghiên cứu này phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Phát triển - Lào. Nghiên cứu này thu nhập số liệu sơ cấp từ các khách hàng cá nhân thông qua bảng khảo sát, kết quả nghiên cứu cho thấy, 8 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân. Có 6 nhân tố ảnh hưởng thuận chiều đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng bao gồm: (TH) Thương hiệu; (LITC) Lợi ích tài chính; (STT) Sự thuận tiện; (CLDV) Chất lượng dịch vụ; (NVNH) Nhân viên ngân hàng và (CSVC) Cơ sở vật chất. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp thu hút tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Phát triển Lào.
10 Vận dụng mô hình phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vào địa phương cấp tỉnh / Phạm Thị Ngọc Sương // .- 2024 .- Số 827 - Tháng 6 .- Tr. 132-134 .- 658
Bài viết nghiên cứu mô hình phân tích năng lực cạnh tranh vào địa phương cấp tỉnh. Với phương pháp định tính, nghiên cứu cho thấy, tính phù hợp trong việc ứng dụng các mô hình phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tại địa phương cấp tỉnh/thành phố. Hầu hết chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được thiết kế và xây dựng trên cơ sở đánh giá yếu tố gián tiếp tác động các chỉ số ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và có mối quan hệ 2 chiều. Nói cách khác Chỉ số năng lực tranh cấp tỉnh (PCI) không chỉ là thước đo thể hiện sự ganh đua giữa các tỉnh/thành phố trong thu hút đầu tư tư nhân, mà còn cho biết khả năng hỗ trợ và phản ánh mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với năng lực quản lý của chính quyền tỉnh.