Đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm tôm nuôi đến thu nhập của các hộ nuôi tôm ở Bạc Liêu sử dụng phương pháp phân tích điểm xu hướng (PSM). Các giải pháp nhằm góp phần cải thiện tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm nuôi tôm trên địa bàn bao gồm: (i) phổ biến sản phẩm bảo hiểm nuôi tôm; và (ii) hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro.
Bài viết tập trung phân tích ảnh hưởng của phát triển công nghiệp và dịch vụ đối với sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam trong giai đoạn 2010-2012. Kết quả hồi quy số liệu mảng với mô hình tác động cố định cho thấy chênh lệch GDP bình quân lao động giữa khu vực công nghiệp-dịch vụ và khu vực nông nghiệp có tác động tích cực đến lợi nhuận từ hoạt động trồng trọt của các hộ gia đình nông thôn. Điều này tuân theo mô hình Lewis về sự dịch chuyển lao động giữa hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp. Nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế và tầm quan trọng của các chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp-nông thôn hiện nay.
Bài viết dựa trên mô hình cân bằng tổng thể cạnh tranh độc quyền, phân tích phúc lợi của các quốc gia có vị thế khác nhau, lợi ích của FTA cũng như các nhân tố ảnh hưởng theo hệ thống “Hub – Spoke, H – S” và cơ cấu mở rộng. Kết quả cho thấy: (1) giữa nước H và S tồn tại sự bất cân đối về hiệu quả, phúc lợi nước H thu được lớn hơn nước S; (2) tình hình phân phối phúc lợi của hệ thống đa trục – nan hoa và cấu trúc liên kết nan hoa rất phức tạp, chịu tác động kết hợp của tính thay thế sản phẩm, bổ trợ thương mại, mức độ quan hệ thương mại song phương, mức tăng lợi nhuận theo quy mô…; (3) từ sự phát triển của hệ thống H – S đến thương mại tự do toàn cầu có thể gia tăng kim ngạch thương mại và phúc lợi của nước S, giảm bớt kim ngạch thương mại và phúc lợi của nước H. Từ đó, bài viết đề xuất những gợi ý cho việc lựa chọn đối tác và thực hiện chiến lược FTA của Việt Nam.
Bài nghiên cứu phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự lành mạnh tài chính của 18 ngân hàng thương mại Việt Nam bằng bộ chỉ số FSIs cốt lõi trong giai đoạn 2008-2013. Nghiên cứu sử dụng các chỉ số FSIs để xếp hạng cho 18 ngân hàng sau đó tiến hành hồi quy dữ liệu mảng với biến phụ thuộc là xếp hạng lành mạnh tài chính của các ngân hàng và biến độc lập là 6 chỉ số FSIs được lựa chọn phù hợp. Kết quả xác định được mức độ ảnh hưởng của nợ xấu đến lành mạnh tài chính là lớn nhất, sau đó là CAR và ROE, cuối cùng là thanh khoản và thu nhập. Từ những phân tích lỗ hổng và yếu kém của hệ thống ngân hàng, nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị cho những nhà làm chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá lành mạnh tài chính và quan trọng hơn hết là cải thiện mức độ lành mạnh tài chính của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tìm ra các nhân tố tác động đến động lực làm việc của giảng viên đại học đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này. Nghiên cứu tiến hành khảo sát ý kiến của các giảng viên thuộc khối kỹ thuật, kinh tế tại các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp phân tích dữ liệu khác nhau như Phân tích nhân tố khám phá (EFA), Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và Mô hình Cấu trúc Tuyến tính (SEM). Kết quả cụ thể cho thấy đam mê nghề nghiệp, năng lực giảng dạy, lương thưởng phúc lợi, đào tạo và thăng tiến, sự công nhận của xã hội là các yếu tố tác động đến động lực làm việc của giảng viên. Bài viết cũng đồng thời thảo luận những kết quả nghiên cứu chính và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao động lực làm việc của giảng viên.
Bài viết này nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù năm 2015 tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong 5 năm 2011-2015 nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế như: tăng trưởng vẫn mang nặng tính gia công, cấu trúc tăng trưởng chưa hợp lý, hiệu quả tăng trưởng còn thấp. Bài viết cũng đã tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến những khía cạnh về chất lượng tăng trưởng nói trên và đưa ra các khuyến nghị giải pháp áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
Bài viết trình bày 3 phần: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay, tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi sang bối cảnh kinh tế mới và cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh mới.
Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp sản xuất thuốc tại Việt Nam. Quá trình nghiên cứu được tiến hành theo hai giai đoạn: sử dụng mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA) để ước lượng hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp và sử dụng mô hình Tobit để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả.
Bài viết này đánh giá sự thay đổi kết quả về mặt tài chính của quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam. Bài viết sử dụng các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa và hiện đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bài viết thực hiện so sánh các tỷ suất tài chính giữa hai thời điểm trước và sau khi cổ phần hóa. Kết quả nghiên cứu thể hiện việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước bằng cổ phần hóa dẫn đến sự cải thiện về khả năng sinh lợi, nợ thấp hơn, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thấp hơn, các rủi ro tiềm tàng do nợ ngắn hạn cao. Kết quả nghiên cứu đề xuất rằng việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước nên được tiếp tục.
Nghiên cứu này kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu với giá trị thương hiệu; và mối quan hệ giữa giá trị thương hiệu với phản ứng của khách hàng tại thị trường điện thoại thông minh Việt Nam. Mẫu được thu thập từ 335 khách hàng là chủ sở hữu các điện thoại thông minh mang thương hiệu Apple. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính cho thấy: (1) chất lượng cảm nhận, liên tưởng thương hiệu kết hợp với nhận biết thương hiệu và trung thành thương hiệu ảnh hưởng tích cực đến giá trị thương hiệu; (2) giá trị thương hiệu có tác động thuận chiều đến yêu thích thương hiệu và dự định mua, nhưng không ảnh hưởng tích cực đến sẵn sàng trả giá cao; và (3) yêu thích thương hiệu ảnh hưởng trực tiếp, tích cực đến dự định mua. Với kết quả nghiên cứu được tìm thấy, một số hàm ý chính sách được gợi ý cho các nhà quản trị có liên quan.